Nguy cơ tái phát di căn cao ở bệnh nhân ung thư trẻ tuổi
Cập nhật vào: Thứ ba - 30/12/2025 08:06
Cỡ chữ
Một nghiên cứu mới trên nhóm thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ (AYA) mắc bảy loại ung thư phổ biến cho thấy: gần 1/10 bệnh nhân được chẩn đoán không di căn ban đầu sau đó vẫn phát triển tái phát di căn; tình trạng làm giảm đáng kể khả năng sống sót. Di căn là khi tế bào ung thư lan từ vị trí ban đầu đến các bộ phận khác của cơ thể và thường dự báo tiên lượng xấu hơn nhiều.
Nghiên cứu được dẫn dắt bởi các nhà khoa học tại Trung tâm Ung thư Toàn diện được công nhận bởi Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả nhấn mạnh sự cấp thiết của việc xác định và đáp ứng nhu cầu chăm sóc dài hạn cho những người sống sót sau ung thư trẻ tuổi.
Tác giả nghiên cứu Ann Brunson cho biết: “Khi các phương pháp điều trị giúp nâng cao tỷ lệ sống, bệnh nhân trẻ lại đối mặt với những thách thức riêng, nghiên cứu của chúng tôi giúp hiểu rõ hơn về quá trình sống sót và tác động của tái phát di căn, sử dụng dữ liệu toàn bang để chỉ ra xu hướng và định hướng nghiên cứu tiếp theo”.
Dựa trên dữ liệu của hơn 48.000 AYA tại California. Đây là nghiên cứu đầu tiên xem xét bệnh di căn ở nhóm tuổi này. Các nhà khoa học phân tích dữ liệu từ Cơ quan Đăng ký Ung thư California liên kết với hồ sơ y tế toàn bang của Sở Thông tin và Tiếp cận Chăm sóc Sức khỏe California (HCAI). Nhóm nghiên cứu gồm nhóm thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ 15–39 tuổi được chẩn đoán ung thư từ năm 2006–2018, theo dõi đến cuối năm 2020. Tái phát di căn được xác định bằng mã chẩn đoán đặc thù của HCAI hoặc nguyên nhân tử vong liên quan đến ung thư.

Thời gian theo dõi trung vị là 6,7 năm và tuổi trung vị khi chẩn đoán là 33. Hầu hết bệnh nhân là người da trắng không gốc Hispanic (48%) hoặc người Hispanic (32%), sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội cao (43%) và có bảo hiểm tư nhân hoặc quân đội (76%).
Trong 48.406 thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ được nghiên cứu: 9,2% có bệnh di căn ngay tại thời điểm chẩn đoán; 9,5% phát triển tái phát di căn sau đó. Những loại ung thư có tỷ lệ di căn cao nhất gồm: ung thư đại trực tràng: 44,2%; Sarcoma: 41,7%; ung thư vú: 23,9%; ung thư cổ tử cung: 23,6%; ung thư tinh hoàn: 21,6%.
Đối với AYA được chẩn đoán không di căn ban đầu, tỷ lệ tích lũy tái phát di căn sau 5 năm cao nhất ở: Sarcoma: 24,5%; ung thư đại trực tràng: 21,8%; ung thư cổ tử cung: 16,3%; ung thư vú: 14,7%. Ung thư cổ tử cung có tỷ lệ tái phát đặc biệt cao ở mọi giai đoạn; riêng giai đoạn 3, tỷ lệ tích lũy đạt 41,7%.
Nghiên cứu cũng ghi nhận xu hướng thay đổi theo thời gian: Tái phát ung thư cổ tử cung tăng từ 12,7% (2006–2009) lên 20,4% (2015–2018); Ung thư đại trực tràng và melanoma giảm; Giai đoạn 1 ung thư cổ tử cung có mức tăng rõ rệt nhất; Melanoma giai đoạn 3 lại có mức giảm đáng kể.
Kết quả cho thấy: thời gian sống sau tái phát di căn tệ hơn đáng kể so với những người di căn ngay khi chẩn đoán, ngoại trừ ung thư tinh hoàn và tuyến giáp. Một số mức tăng nguy cơ tử vong (HR): ung thư vú: HR = 2,87; ung thư cổ tử cung: HR = 2,10; Melanoma: HR = 1,61; Sarcoma: HR = 1,57; ung thư đại trực tràng: HR = 1,53
Để xác thực độ chính xác của phương pháp phát hiện tái phát di căn, nhóm nghiên cứu so sánh với dữ liệu Kaiser Permanente Northern California và ghi nhận mức độ trùng khớp 96,9% (sau khi tính các bệnh nhân không bao giờ hoàn toàn hết bệnh).
Kết quả này cho thấy gánh nặng lớn của tình trạng tái phát di căn ở thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu chăm sóc sống sót phù hợp. Hiểu rõ các mô hình này giúp chúng ta xác định bất bình đẳng và đánh giá hiệu quả của các nỗ lực phòng ngừa, phát hiện và điều trị ung thư ở cả giai đoạn sớm lẫn di căn.
Đ.T.V (NASTIS), theo https://medicalxpress.com/news/, 2025
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








