Nghiên cứu khả năng chữa bệnh của cây hồ đằng rễ mành có tiềm năng hỗ trợ điều trị các bệnh lý viêm mãn tính và đái tháo đường
Cập nhật vào: Thứ hai - 22/09/2025 00:04
Cỡ chữ
Hồ đằng rễ mành (HĐRM) có nguồn gốc từ châu Mỹ, hiện được trồng phổ biến tại Việt Nam. Trong y học dân gian Nam Mỹ, cây được sử dụng để điều trị các bệnh như động kinh, loét dạ dày, viêm nhiễm, lo âu và đặc biệt là tiểu đường. Một số công bố quốc tế gần đây đã xác nhận các hoạt tính sinh học của loài cây này như hạ đường huyết, chống viêm và an toàn khi sử dụng đường uống trên động vật. Tuy nhiên, tại Việt Nam, HĐRM vẫn chưa được nghiên cứu nhiều để khai thác dưới góc độ dược lý học. Vì thế, các nhà khoa học tại trường Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng, trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và trường Đại học Cửu Long đã tiến hành nghiên cứu đánh giá độc tính cấp, tác dụng kháng viêm và khả năng hạ đường huyết của cao chiết từ HĐRM trên mô hình chuột nhắt trắng.
Nhóm nghiên cứu đã thu gom nguyên liệu (là phần trên mặt đất của cây được thu hái vào giai đoạn ra hoa), sau đó làm sạch, sấy khô, tán nhỏ rồi chiết xuất với ethanol 40% để thu dịch chiết. Tiếp theo, họ đã cô đặc dịch chiết để tạo thành cao và pha loãng với liều lượng xác định để dùng trong thí nghiệm.
Kết quả thử nghiệm độc tính cấp qua đường uống cho thấy, ở liều cao nhất được thử là 23,47 g/kg thể trọng, chuột không có biểu hiện bất thường nào trong 72 giờ đầu cũng như trong suốt 14 ngày theo dõi. Chuột vẫn ăn uống, vận động và bài tiết bình thường, qua đó chứng tỏ cao HĐRM an toàn và có thể tiếp tục được thử nghiệm trên các mô hình tác dụng dược lý.
Kết quả khảo sát trên mô hình chuột bị phù chân do carragenin 1% gây ra, cho thấy cao HĐRM có tác dụng kháng viêm với liều lượng 2,35 g/kg, khả năng kháng viêm đạt hiệu quả tương đương với thuốc Solupred® (prednisolone 5 mg/kg) thông dụng sau 72 giờ dùng thuốc.
Trong nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết, cao HĐRM không ảnh hưởng đến đường huyết ở cơ thể bình thường, từ đó hạn chế nguy cơ tụt đường huyết – một biến chứng nguy hiểm khi sử dụng thuốc hạ đường huyết không phù hợp. Trong mô hình dung nạp glucose, chuột được cho uống glucose sau bảy ngày sử dụng cao HĐRM. Kết quả là cả hai liều thử nghiệm đều giúp kiểm soát mức đường huyết sau ăn, với mức đường huyết giảm nhẹ tại các thời điểm 30 phút và 120 phút sau nạp đường. Đây là cơ chế quan trọng trong việc phòng ngừa biến động đường huyết sau bữa ăn ở người tiền đái tháo đường.
Trên mô hình chuột đái tháo đường do streptozotocin gây ra, nhóm tiếp tục thử nghiệm cao HĐRM trong bảy ngày. Kết quả, gliclazid làm giảm 52% đường huyết so với nhóm bệnh lý không được điều trị. Cao HĐRM ở liều 1,175 g/kg cũng cho kết quả khả quan khi làm giảm 43,5% đường huyết, gần tương đương với thuốc chuẩn. Tuy nhiên, ở liều 2,35 g/kg, hiệu quả chỉ đạt 34,6%, cho thấy tác dụng không tăng theo liều lượng.
Tóm lại, cao HĐRM là dược liệu an toàn ở liều cao, có khả năng kháng viêm mạnh sau 24 - 72 giờ và hạ đường huyết trên mô hình bệnh lý. Đặc biệt, việc không gây hạ đường huyết trên cơ thể khỏe mạnh giúp giảm nguy cơ biến chứng, mở ra triển vọng sử dụng dược liệu này như một sản phẩm hỗ trợ điều trị các bệnh lý viêm mạn tính và đái tháo đường.
N.P.D (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











