Kháng kháng sinh của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập trên hàu bán tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Cập nhật vào: Thứ ba - 11/11/2025 08:04
Cỡ chữ
Vibrio parahaemolyticus là vi khuẩn gram âm, sống trong môi trường nước lợ, mặn. Chúng là tác nhân gây bệnh phổ biến trên các loài động vật thủy sản và trên con người. Theo Cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm, V. parahaemolyticus có thể gây bệnh ở người thông qua tiêu thụ hải sản có chứa vi khuẩn chưa được nấu chín hoặc bị nhiễm khuẩn trong quá trình chế biến và bảo quản. Hiện nay tình trạng xuất hiện vi khuẩn Vibrio có khả năng kháng kháng sinh là một vấn đề đáng lo ngại. Các loại thực phẩm chứa Vibrio có khả năng kháng kháng sinh là một mối nguy đối với sức khỏe cộng đồng, vì chúng có thể mang các gen kháng kháng sinh và có khả năng lan truyền sang các vi khuẩn cùng loài hoặc khác loài, đặc biệt sang vi khuẩn cộng sinh hay gây bệnh trên người.

Nhuyễn thể, đặc biệt là hàu đã được nghiên cứu và chứng minh mang lại rất nhiều lợi ích cho sức khoẻ con người. Trong thời gian gần đây, nhu cầu sử dụng hàu để ăn sống/tái có xu hướng gia tăng, theo đó là mối nguy ngộ độc thực phẩm cũng tăng theo. Tại Việt Nam hiện nay có rất ít công bố liên quan đến tình trạng kháng kháng sinh trên đối tượng nhuyễn thể, đặc biệt là trên hàu đang được bày bán để làm thực phẩm. Từ đó, việc khảo sát tình hình kháng kháng sinh của V. parahaemolyticus phân lập từ hàu thực phẩm là rất cần thiết.
Từ các lý do trên, Truyện Nhã Định Huệ và các cộng sự tại Khoa Thuỷ Sản, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã thực hiện đề tài: “Kháng kháng sinh của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập trên hàu bán tại thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Kết quả cho thấy, đặc tính kháng kháng sinh của 75 chủng V. parahaemolyticus được phân lập từ hàu thực phẩm tại thành phố Thủ Đức thể hiện tính kháng cao với các kháng sinh ampicillin (100%), nitrofurantoin (82,7%), streptomycin (56%) và kháng trung gian với các kháng sinh ciprofloxacin (61,3%), enrofloxacin (56%). Tất cả các chủng hoàn toàn nhạy cảm với florfenicol và chloramphenicol (0%). Tính đa kháng kháng sinh được ghi nhận ở mức 96%. Chỉ số đa kháng kháng sinh ở địa điểm thu mẫu số 5 cho thấy hàu đã được nuôi trong khu vực không hoặc hiếm khi tiếp xúc với kháng sinh (MAR 0,2) và tại các điểm thu mẫu khác chỉ ra rằng hàu bán tại các địa điểm này có thể được nuôi trong khu vực có tiếp xúc với kháng sinh.
Có thể nói, hiện tượng kháng thuốc kháng sinh xảy ra trong nuôi thủy sản là một mối đe dọa lớn đối với sức khoẻ cộng đồng vì chúng có khả năng truyền gen đa kháng kháng sinh từ vi khuẩn gây bệnh ở động vật thủy sản sang vi khuẩn gây bệnh ở người thông qua tiếp hợp. Các thử nghiệm chuyển gen kháng kháng sinh từ vi khuẩn E. coli có nguồn gốc từ tôm thực phẩm, E. coli, Pseudomonas và Aeromonas từ cá tra sang vi khuẩn E. coli có nguồn gốc từ con người bằng phương pháp tiếp hợp đã được thực hiện thành công. Do đó, cần phải kiểm soát chặt chẽ việc lưu hành của các kháng sinh, giảm thiểu mức thấp nhất tình trạng thất thoát kháng sinh ra ngoài môi trường làm ô nhiễm môi trường, đồng thời, các nhà quản lý phải thường xuyên đưa ra các khuyến cáo cho người nuôi các tác hại của việc sử dụng kháng sinh bừa bãi, lạm dụng và sử dụng kháng sinh sai nguyên tắc. Bên cạnh đó, cần có các quy trình nuôi nhằm hạn chế dịch bệnh, thân thiện với môi trường, đồng thời cần có thêm những sản phẩm nhằm thay thế kháng sinh trong chăn nuôi để có thể vượt qua các rào cản trong xuất khẩu, tạo thế an toàn thực phẩm, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, hướng tới phát triển bền vững.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








