Thành phần các loài thực vật bậc cao có mạch tại một số bãi đổ thải khai thác khoáng sản ở miền Bắc Việt Nam
Cập nhật vào: Thứ hai - 09/06/2025 00:04
Cỡ chữ
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng với hơn 5.000 điểm quặng, với trên 60 loại khoáng sản có ích với quy mô trữ lượng khác nhau. Tiềm năng phát triển của ngành khai thác khoáng sản của Việt Nam là rất to lớn, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp có liên quan cũng như tạo công ăn việc làm cho một lực lượng lao động đáng kể ở các mỏ khai thác khoáng sản mà phần lớn nằm ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong đất, kim loại nặng tồn tại và chuyển hóa dưới nhiều dạng khác nhau, liên kết với các hợp chất hữu cơ, vô cơ hoặc tạo thành các chất phức hợp (Orhue và Frank, 2011). Khả năng dễ tiêu của chúng đối với thực vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: pH, dung tích trao đổi cation (CEC) và sự phụ thuộc lẫn nhau vào các kim loại khác (Tangahu et al.,2011; Cui el al., 2021). Do đó, việc cải tạo và xử lý đất ô nhiễm kim loại nặng rất khó khăn và phức tạp. Vì vậy, việc lựa chọn những giải pháp thích hợp nhằm xửlý, cải tạo và phục hồi môi trường đất là nhiệm vụ cấp bách hiện nay.

Các loài thực vật có khả năng hỗ trợ việc xử lý ô nhiễm đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều khu vực do thực vật có khả năng vận chuyển các chất ô nhiễm từ đất lên thân nhanh, chịu được nồng độ các chất ô nhiễm cao và sinh khối lớn. Thế giới ghi nhận có 721 loài phân bố trong 52 họ thực vật và 130 chi được biết là có khả năng siêu hấp thụ kim loại. Trong số các thực vật siêu tích lũy kim loại, các họ thực vật chiếm ưu thế về số loài này gồm họ Cúc (Asteraceae), họ Cải (Brassicaceae), họ Cẩm chướng (Caryophyllaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ Đậu (Fabacea), họ Mùng quân (Flacourtiaceae), họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Hòa thảo (Poaceae), họ Hoa tím (Violaceae) và họ Thầu dầu (Euphobiaceae). Các cơ chế hay quá trình cơ bản của xử lý ô nhiễm môi trường bằng thực vật bao gồm: quá trình tích tụ hoặc bóc tách (phytoextraction hoặc phytoaccumulation), quá trình lọc từ nước hay dung dịch đất bằng tiếp xúc bề mặt rễ (phytofiltration), quá trình cố định (phytostabilization), quá trình loại bỏ thông qua thoát hơi nước (phytovolatilization) và quá trình phân hủy (phytodegradation). Tuy nhiên, quá trình tích tụ (phytoextraction hoặc phytoaccumulation) là quá trình chính và hữu hiệu nhất trong việc loại bỏ các kim loại nặng, các chất ô nhiễm khác và trầm tích ở trong đất bởi các loài thực vật.
Lựa chọn loài thực vật để trồng tại các bãi tập kết chất thải sau khai khoáng là một nhiệm vụ đầy thách thức vì các khu vực này thường có độ ẩm và hàm lượng dinh dưỡng thấp. Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn loài cây có thể sống được trên các bãi đổ thải khai thác khoáng sản tại khu vực miền Bắc Việt Nam, nghiên cứu này đã tiến hành điều tra thành phần các loài thực vật tại các bãi đổ thải sau khi khai thác kim loại nặng tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Sơn La và Yên Bái. Qua đó, cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số loài cây trồng có thể trồng trên bãi thải để thúc đẩy quá trình xử lý ô nhiễm kim loại nặng, phủ xanh và cải tạo môi trường.
Đối tượng nghiên cứu là 10 bãi đổ thải tại 5 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La. Trong đó, có 2 bãi đổ thải đã dừng hoạt động, 08 bãi đổ thải còn lại vẫn đang trong quá trình hoạt động.
Kết quả đã xác định được 275 loài thuộc 227 chi, 97 họ và 5 ngành thực vật tại 10 bãi đổ thải nghiên cứu. Số lượng loài thực vật của từng bãi thải dao động từ 58 – 135 loài thuộc 52 – 109 chi, 26 – 45 họ. Bãi đổ thải CB thiếc với diện tích 124,24 ha có số lượng loài lớn nhất (135 loài) và bãi đổ thải YB2 sắt và YB4 chì kẽm có số lượng loài ít nhất (58 loài). Tỷ trọng các loài, chi, họ tập trung chủ yếu vào ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) với số lượng loài cao nhất, chiếm 94,55%. Phổ dạng sống của các loài thực vật tại khu vực nghiên cứu đã được xác định, trong đó dạng sống chiếm tỷ lệ lớn nhất là nhóm cây chồi trên, cây một năm.
Căn cứ vào kết quả điều tra về thành phần loài thực vật, nghiên cứu đã đề xuất được 15 loài có khả năng thích nghi tốt trên các bãi thải nhằm cải tạo môi trường đất ban đầu tại các bãi thải bao gồm Hu đay (Trema orientalis (L.) Blume), Ba soi (Macaranga denticulata (Blume) Müll.Arg.), Dướng (Broussonetia papyrifera (L.) L'Hér. ex Vent.), Đa lá lệch (Ficus semicordata Buch.-Ham. ex Sm.), Bùm bụp lông (Mallotus barbatus Müll.Arg.), Đơn buốt (Bidens pilosa L.), Cỏ lào (Chromolaena odorata (L.) R.M.King & H.Rob.), Ké hoa đào (Urena lobata L.), Cỏ hôi (Ageratum conyzoides L.), Cỏ tím (Ageratina adenophora (Spreng.) R.M.King & H.Rob.), Cà trái vàng (Solanum viarum Dunal), Cỏ lá gừng (Axonopus compressus (Sw.) P.Beauv.), Ráng seo gà dài (Pteris grandifolia L.), Cà dại hoa trắng (Solanum torvum Sw.), Cỏ lá tre (Oplismenus hirtellus (L.) P.Beauv.). Đây là các loài cây ưa sáng và sinh trưởng nhanh, tạo sinh khối lớn góp phần cải tạo môi trường đất ban đầu làm tiền đề cho sự phát triển của các loài cây thân gỗ khác.
P.T.T (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








