Quốc hội xem xét Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Trí tuệ nhân tạo
Cập nhật vào: Thứ hai - 24/11/2025 00:01
Cỡ chữ
Sáng 21/11/2025, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan, Quốc hội khóa XV họp phiên toàn thể tại Hội trường để xem xét Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Trí tuệ nhân tạo. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng thay mặt Chính phủ trình bày nội dung Tờ trình.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng trình bày Tờ trình dự án Luật Trí tuệ nhân tạo
Trình bày Tờ trình dự án Luật Trí tuệ nhân tạo trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, việc xây dựng luật nhằm cụ thể hóa các nghị quyết lớn của Đảng, Nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là yêu cầu phát triển trí tuệ nhân tạo vì con người, vì phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, quyền con người và chủ quyền số.
Quốc hội nghe trình bày Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Trí tuệ nhân tạo
Bộ KH&CN được giao là cơ quan chủ trì soạn thảo, đóng vai trò “trục kết nối” giữa các bộ, ngành, giới chuyên gia, doanh nghiệp và cộng đồng nghiên cứu trong nước, đồng thời tham khảo kinh nghiệm lập pháp của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế.
Theo Tờ trình, dự thảo Luật gồm 8 chương, 36 điều, quy định các hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam; xác định quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan; và quy định trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. Dự thảo Luật tiếp cận theo hướng quản lý dựa trên rủi ro, phân loại hệ thống AI theo các mức độ khác nhau, đi kèm là những yêu cầu về minh bạch, gắn nhãn, giải trình, đánh giá sự phù hợp, quản lý và xử lý sự cố. Một số lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh, tình báo, cơ yếu được tách khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật để phù hợp với tính chất bí mật và cơ chế quản lý riêng.
Thay mặt cơ quan chủ trì thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (Ủy ban) Nguyễn Thanh Hải cho biết, Dự thảo Luật đã bám sát các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chủ nhiệm Nguyễn Thanh Hải cũng nêu rõ, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo để bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý hiện có, thiết lập cơ chế quản lý thống nhất, đồng bộ, toàn diện và linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo; thúc đẩy hội nhập, công nhận lẫn nhau về công nghệ. Qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
Ngoài ra, Luật xây dựng theo hướng Luật khung là phù hợp thực tiễn. Tuy nhiên, do lĩnh vực AI phát triển rất nhanh nên việc phải sửa đổi Luật trong một thời gian ngắn là có thể xảy ra. Có ý kiến cho rằng, Luật AI là Luật gốc và đối với mỗi Luật chuyên ngành đều cần có 01 chương riêng về AI.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải phát biểu tại phiên họp toàn thể
Về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo Luật với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế, Ủy ban KH,CN&MT nhận thấy, các nội dung của dự thảo Luật cơ bản phù hợp, đề nghị tiếp tục rà soát tính đồng bộ với các luật như Bộ Luật Dân sự, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và mối quan hệ với các luật chuyên ngành như An toàn thông tin, Chuyển đổi số và Sở hữu trí tuệ. Đồng thời cập nhật nội dung Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội) vừa được ký tại Hà Nội vào tháng 10 vừa qua.
Về phân loại và quản lý hệ thống AI theo rủi ro, Ủy ban cơ bản nhất trí với việc phân loại rủi ro thành 04 mức (rủi ro thấp, trung bình, cao và không chấp nhận được. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa xác định rõ tiêu chí định lượng hoặc định tính để xác định và phân loại rủi ro, chưa có các quy định về biện pháp quản lý, công cụ và phương pháp đánh giá rủi ro nên việc phân loại, tự phân loại rủi ro gặp khó khăn, dẫn đến lo ngại về trách nhiệm pháp lý trong triển khai.
Về các quy định mang tính tiền kiểm, Ủy ban đề nghị rà soát, cắt giảm các quy định tiền kiểm như yêu cầu hồ sơ kỹ thuật, nhật ký hoạt động trước khi đưa sản phẩm vào lưu hành, sẽ tăng chi phí tuân thủ, chậm quá trình đổi mới và ứng dụng AI, làm giảm tính cạnh tranh và thu hút đầu tư, cần nghiên cứu chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm.
Về Ủy ban Quốc gia về trí tuệ nhân tạo, Ủy ban đề nghị làm rõ thẩm quyền thành lập, cơ chế tổ chức và hoạt động của Ủy ban Quốc gia. Ngoài ra, việc thành lập Ủy ban cần bám sát Sáng kiến số 26 là “Hình thành trung tâm đầu não về nghiên cứu, đào tạo và thử nghiệm AI”
Về cơ sở dữ liệu quốc gia hệ thống trí tuệ nhân tạo, và cơ sở dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo, Ủy ban đề nghị bổ sung nguyên tắc cốt lõi để bảo đảm chất lượng đối với dữ liệu phục vụ AI như: dữ liệu phải “đúng - đủ - sạch - sống” và thống nhất dùng chung; có cơ chế kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu không để dữ liệu bị phân tán tạo điểm nghẽn trong nghiên cứu, phát triển AI; có quy định nguyên tắc bắt buộc về đảm bảo an ninh mạng, bảo mật dữ liệu và phòng vệ đối với hạ tầng AI quốc gia, chống nguy cơ chiếm quyền điều khiển, rò rỉ dữ liệu.
Về trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan, những hành vi và lỗi do con người thực hiện thì AI cũng có thể thực hiện. Trong khi đó, trách nhiệm pháp lý của bản thân AI còn nhiều quan điểm rất khác nhau nên rất khó xác định trách nhiệm theo nghĩa truyền thống. Khi có vụ việc phát sinh sẽ gây tranh chấp về trách nhiệm hành chính, dân sự, hình sự. Do vậy, cần bổ sung nguyên tắc để phân biệt trách nhiệm giữa các chủ thể, các bên liên quan kể cả đối với nhà cung cấp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ AI xuyên biên giới và phân biệt giữa các trường hợp cố ý, không cố ý hoặc lỗi do giới hạn kỹ thuật, không tiên lượng được trước;
Về AI đối với văn hóa, xã hội và nghiên cứu khoa học; đạo đức trong hoạt động AI, dự thảo quy định các nguyên tắc cơ bản về đạo đức trong hoạt động AI nhìn chung phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, Ủy ban KH,CN&MT đề nghị bổ sung “Trách nhiệm giải trình về tác động đạo đức và xã hội trong nghiên cứu, sử dụng AI”, bổ sung trách nhiệm đạo đức của khu vực tư nhân trong hoạt động AI, để đồng bộ với khu vực Nhà nước
Chủ nhiệm Ủy ban KH,CN&MT Nguyễn Thanh Hải cũng cho biết, Ủy ban đề nghị bổ sung một mục riêng về việc sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Dự thảo Luật chưa có quy định về nội dung này. Tuy nhiên, đây đang là khu vực tạo ra những đột phá, giá trị vượt trội mà con người chưa thể vươn tới được theo cách truyền thống, chẳng hạn như AI đã hỗ trợ thiết kế protein, tìm ra vật liệu mới mà con người chưa từng biết đến, nhưng vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ như: Quyền tác giả, bảo vệ dữ liệu nghiên cứu, cơ chế chia sẻ dữ liệu nghiên cứu và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các dự án có giá trị khoa học cao, miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro trong quá trình thử nghiệm khi tổ chức, cá nhân đã tuân thủ đúng quy định,…
Ngoài ra, AI phát triển sẽ ảnh hưởng mạnh đến cơ hội việc làm của con người, đến quyền riêng tư và nhiều giá trị văn hóa, đạo đức. Do đó, cần bổ sung quy định về nguyên tắc đối với việc đánh giá tác động xã hội của AI kèm theo biện pháp để ứng phó với sự thay đổi xã hội do AI mang lại.
Về các hành vi bị cấm, Ủy ban đề nghị bổ sung quy định về các hành vi bị cấm để góp phần nhận diện sớm về các hành vi vi phạm từ khâu nghiên cứu đến triển khai sử dụng AI, trong đó phải gồm cả hành vi của người sử dụng, của tổ chức, cá nhân lợi dụng AI thực hiện các hành vi bị cấm theo hướng: Cấm sử dụng AI để gây rối, kích động chính trị, xâm phạm an ninh quốc gia, thao túng các cuộc bỏ phiếu, bầu cử,…; Cấm sử dụng AI để tạo dựng những nội dung giả mạo, tạo dựng hình ảnh, video clip,… phục vụ lừa đảo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gây chia rẽ và các mục đích xấu khác,…
Về nghĩa vụ minh bạch và gắn nhãn, Ủy ban KH,CN&MT cơ bản tán thành với quy định về gắn nhãn đối với các sản phẩm có sử dụng AI tại dự thảo Luật, nhằm có sự ràng buộc về trách nhiệm đạo đức và pháp lý. Cần bổ sung quy định về nguyên tắc đối với hình thức gắn nhãn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các trường hợp được miễn trừ gắn nhãn chẳng hạn như việc gắn nhãn với các sản phẩm hình ảnh, video, văn bản, âm thanh… là thực sự cần thiết, nhưng đối với các sản phẩm, thiết bị phần cứng như tủ lạnh, Tivi, máy giặt,… có sử dụng AI thì cân nhắc miễn hoặc gắn nhãn vô hình để giảm chi phí, thủ tục nhưng vẫn bảo đảm khả năng quản lý và truy xuất.
P.T (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








