Xây dựng cơ sở dữ liệu đổi mới công tác thông tin về tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật xây dựng
Cập nhật vào: Thứ sáu - 28/11/2025 00:06
Cỡ chữ
Luật Điện lực được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2004, có hiệu lực từ 01/7/2005 và đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2012, 2018, 2021. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển, quản lý điện lực, đồng thời khẳng định vai trò của ngành trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Luật khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển điện lực, đa dạng hóa hình thức sở hữu và quản lý trong các khâu phát điện, phân phối, bán buôn, bán lẻ điện, hướng tới cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Luật cũng quy định rõ quyền, nghĩa vụ, lợi ích của khách hàng và các tổ chức, cá nhân hoạt động điện lực.
Hoạt động điện lực là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, bao gồm các lĩnh vực như quy hoạch, đầu tư phát triển, phát điện, truyền tải, phân phối, điều độ hệ thống, điều hành thị trường, bán buôn, bán lẻ, tư vấn chuyên ngành. Để tham gia các hoạt động này, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh và được cấp Giấy phép hoạt động điện lực, trừ các trường hợp miễn trừ. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản (Nghị định số 137/2013/NĐ-CP, Nghị định số 08/2018/NĐ-CP, Nghị định số 17/2020/NĐ-CP) để quy định cụ thể điều kiện cấp giấy phép, theo hướng đơn giản hóa điều kiện và tăng cường hậu kiểm. Bộ Công Thương, Cục Điều tiết điện lực và UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quản lý nhà nước về cấp Giấy phép hoạt động điện lực. Để nâng cao hiệu quả quản lý trong bối cảnh đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, việc kiểm tra thường xuyên việc tuân thủ các điều kiện hoạt động và nội dung giấy phép là rất cần thiết nhằm phát hiện kịp thời các đơn vị không đáp ứng đủ điều kiện. Do đó, việc xây dựng Quy trình kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện hoạt động điện lực và nội dung trong Giấy phép hoạt động điện lực là vô cùng cần thiết.
Nhận thức rõ tầm quan trọng này, ThS. Phùng Mạnh Trường cùng các cộng sự tại Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (nay là Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia) đã và đang triển khai đề tài: "Xây dựng cơ sở dữ liệu đổi mới công tác thông tin về tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật xây dựng". Đề tài này không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý, khai thác và sử dụng Quy chuẩn Việt Nam (QCVN), Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) tại các bộ, ngành, địa phương mà còn hướng tới mọi đối tượng sử dụng khác, từ doanh nghiệp đến người dân.
Mục tiêu cụ thể của đề tài là mở rộng và hoàn thiện các tính năng của hệ thống phần mềm quản lý CSDL TCVN hiện có, đồng thời bổ sung và tích hợp các chức năng mới để quản lý các cơ sở dữ liệu đa dạng hơn như QCVN, Văn bản kỹ thuật đo lường Việt Nam (ĐLVN), Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS), Tiêu chuẩn nước ngoài (TCNN), Tiêu chuẩn quốc tế (TCQT), và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Việc tích hợp các thông tin về tổ chức chứng nhận, thử nghiệm, kiểm định, hiệu chuẩn, danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 và hệ thống mã HS cũng là điểm nhấn quan trọng, giúp các bên liên quan dễ dàng tra cứu và áp dụng. Qua đó, đề tài sẽ thúc đẩy việc chia sẻ thông tin về tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp, phát triển các ứng dụng và dịch vụ giá trị gia tăng từ các CSDL này. Điều này không chỉ hỗ trợ đắc lực công tác quản lý nhà nước, minh bạch hóa thông tin sản phẩm, hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, góp phần thúc đẩy việc áp dụng và sử dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong toàn ngành xây dựng Việt Nam.
Sau một thời gian triển khai, đề tài đã đưa ra những kết luận quan trọng về vai trò và định hướng phát triển của hệ thống tiêu chuẩn trong lĩnh vực xây dựng, cùng với các đề xuất cụ thể để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng.
Hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN) nói chung và hệ thống tiêu chuẩn ngành Xây dựng nói riêng đã khẳng định vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế và khu vực. Đây là công cụ hữu hiệu phục vụ công tác quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương, đồng thời là cơ sở kỹ thuật để triển khai các hoạt động xây dựng phù hợp với điều kiện tự nhiên và thực tế của Việt Nam. Về cơ bản, hệ thống tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước.
Trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT), việc nắm bắt và ứng dụng CNTT vào hoạt động xây dựng TCVN là một yêu cầu thiết yếu. Điều này không chỉ mang lại lợi ích to lớn cho các tổ chức xây dựng và thiết lập tiêu chuẩn mà còn giúp các cơ quan quản lý, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và chuyên gia dễ dàng tham gia vào toàn bộ quá trình tiêu chuẩn hóa (TCH) – từ khâu quy hoạch, lập kế hoạch đến triển khai, phổ biến và áp dụng tiêu chuẩn. Hơn nữa, việc ứng dụng CNTT còn góp phần nâng cao chất lượng tiêu chuẩn để phục vụ cộng đồng và xã hội tốt hơn.
Với mục tiêu xây dựng và quản lý thống nhất hệ thống thông tin điện tử cơ sở dữ liệu tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các dữ liệu liên quan trong lĩnh vực xây dựng, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, khai thác, sử dụng Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) và TCVN, đề tài đã tập trung vào việc hoàn thiện quy trình phổ biến thông tin, tạo điều kiện tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng cho mọi đối tượng tham gia hoạt động xây dựng.
Kết quả nổi bật của nhiệm vụ là việc xây dựng thành công một cơ sở dữ liệu đầy đủ, bao gồm:
- Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN).
- Quy chuẩn Quốc gia (QCVN).
- Các văn bản pháp quy liên quan.
- Danh mục các tiêu chuẩn của các tổ chức tiêu chuẩn hóa được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực xây dựng.
- Thông tin về các tổ chức chứng nhận, thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định và kiểm định trong ngành xây dựng.
Các cơ sở dữ liệu này được xây dựng dưới dạng quan hệ, liên kết chặt chẽ với nhau thông qua các giao diện lập trình ứng dụng (API) để đảm bảo tính toàn vẹn và nhất quán của dữ liệu. Nhờ đó, một môi trường tra cứu thuận lợi đã được tạo ra cho mọi đối tượng quan tâm, từ các nhà quản lý, hoạch định chính sách về tiêu chuẩn hóa đến các tổ chức chứng nhận, thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, kiểm định và cuối cùng là các đối tượng trực tiếp áp dụng tiêu chuẩn vào quá trình sản xuất.
Đề tài đã tạo tiền đề quan trọng để xây dựng một hệ cơ sở dữ liệu tiêu chuẩn quốc gia thống nhất và duy nhất, đảm bảo cung cấp thông tin tiêu chuẩn hóa một cách chính xác đến các tổ chức, cá nhân áp dụng. Điều này đáp ứng nhu cầu thiết yếu về thông tin tiêu chuẩn của người sử dụng, đồng thời hỗ trợ rất lớn trong quá trình xây dựng và triển khai áp dụng tiêu chuẩn, giúp các tổ chức định hướng dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch phát triển tiêu chuẩn xây dựng trong tương lai. Mặt khác, kết quả đề tài còn góp phần mở rộng mạng lưới tham gia xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng tiêu chuẩn để phục vụ cộng đồng và xã hội.
Để phát huy tối đa hiệu quả của hệ thống và tiếp tục nâng cao công tác quản lý tiêu chuẩn, đề tài đưa ra các kiến nghị sau:
- Thống nhất danh mục TCVN, QCVN chuyên ngành xây dựng: Cần phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để thống nhất danh mục cụ thể các nhóm TCVN, QCVN chuyên ngành xây dựng. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc phân loại, cập nhật và theo dõi hiệu quả.
- Chuẩn hóa số hiệu hệ thống TCVN chuyên ngành xây dựng: Việc chuẩn hóa số hiệu sẽ tạo thuận lợi cho việc theo dõi, quản lý và sử dụng của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt trong khâu quản lý hồ sơ và cấp số hiệu TCVN.
- Đảm bảo kinh phí duy trì và phát triển: Cần có kinh phí thường xuyên hàng năm để cập nhật mới cơ sở dữ liệu về TCVN, QCVN và các CSDL liên quan; duy trì máy chủ lưu trữ CSDL; cũng như nâng cấp hệ thống và tính năng của cổng thông tin.
- Hoàn thiện và nâng cấp phần mềm liên tục: Phần mềm cần được tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp để phù hợp với thực tế, đảm bảo cung cấp thông tin, dữ liệu chính xác, đầy đủ, kịp thời, thân thiện với người dùng, đồng thời mở rộng và xã hội hóa hoạt động xây dựng TCVN.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21178/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








