Sản xuất thử nghiệm giống và nuôi thương phẩm nguồn gen cá song dẹt
Cập nhật vào: Chủ nhật - 09/11/2025 08:07
Cỡ chữ
Cá song dẹt (mú dẹt) (Epinephelus bleekeri) là một trong những loài thuộc họ Serranidae phân bố rộng các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Ở Việt Nam, cá song dẹt phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vùng biển Khánh Hòa, sống chủ yếu ở vùng biển cạn, nơi có bờ đá và rạn san, độ mặn cao và ổn định. Cá song dẹt có giá trị dinh dưỡng và cũng là loại thực phẩm có giá trị kinh tế. Hiện nay, nhu cầu của cá song dẹt trên thị trường rất lớn, dẫn đến tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi tự nhiên. Sự suy giảm quần đàn ngoài tự nhiên và giá cả thị trường ngày càng cao dẫn đến nhu cầu nuôi cá song dẹt ngày càng tăng. Tuy nhiên, con giống sử dụng trong nuôi thương phẩm hiện nay chủ yếu khai thác ngoài tự nhiên và sản xuất giống nhân tạo, nguồn giống khai thác ngoài tự nhiên đã dần cạn kiệt do khai thác quá mức, trong khi đó nguồn giống từ sản xuất nhân tạo còn chưa ổn định về số lượng do công nghệ còn chưa hoàn thiện.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2022, nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III do ThS. Nguyễn Văn Dũng dẫn đầu, đã thực hiện đề tài: “Sản xuất thử nghiệm giống và nuôi thương phẩm nguồn gen cá song dẹt (Epinephelus bleekeri Vaillant, 1878)” nhằm xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá song dẹt.
Các tác giả đã sử dụng phương pháp thụ tinh ướt trong sinh sản nhân tạo cá song dẹt đem lại hiệu quả tốt hơn, tỷ lệ thụ tinh 80,83%, tỷ lệ nở đạt 88,43% và tỷ lệ sống của cá bột 5 ngày tuổi đạt 85,24%.
Mật độ ấp trứng thích hợp là 1.000 trứng/L cho kết quả tối ưu về thời gian phát triển phôi của cá song dẹt là 18 giờ 55 phút, tỷ lệ nở 87,42%, tỷ lệ sống cá bột 5 ngày tuổi 84,15%, tỷ lệ dị hình 3,79% và kích thước ấu trùng 1,82 mm.
Cá song dẹt nuôi thương phẩm nuôi mật độ 12 con/m3 sử dụng thức ăn cá tạp, chế độ cho ăn 2 lần/ngày đạt kết quả tốt nhất về tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và năng suất nuôi.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được bộ tiêu chuẩn cơ sở về cá bố mẹ và cá giống. Quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm phù hợp với điều kiện thực tế.
Ngoài ra, các nhà khoa học đã xây dựng thành công 2 mô hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá song dẹt tại các đơn vị phối hợp đạt các chỉ tiêu sau: tỷ lệ sống ương nuôi từ cá bột lên cá hương (1,5-2,0 cm) đạt 2,30-2,85%; tỷ lệ sống giai đoạn cá hương lên cá giống (3-4 cm) đạt 83.5-84,5%; tỷ lệ sống của cá thương phẩm (≥ 1 kg/con) đạt 75,5-77,2%; năng suất nuôi trung bình đạt 8,2 kg/m3 , sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Các kỹ thuật viên tại các đơn vị tiếp nhận công nghệ đã tự thực hiện thuần thục các bước trong quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá song dẹt.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (Mã số 21467/2021) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








