Nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng nhanh một số phụ gia thực phẩm bằng kỹ thuật điện di mao quản sử dụng thiết bị di động
Cập nhật vào: Thứ ba - 18/02/2025 12:04
Cỡ chữ
Hiện nay, tại Việt nam, vẫn còn tồn tại tình trạng vi phạm các quy định về sử dụng phụ gia trong chế biến thực phẩm, sử dụng các phụ gia ngoài danh mục Bộ Y tế cho phép hoặc phụ gia trong danh mục nhưng vượt quá liều lượng cho phép. Một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý an toàn thực phẩm là các phương pháp phân tích. Các phương pháp phân tích nhanh (quick test) có thể thực hiện tại hiện trường chỉ cho kết quả âm tính (-), dương tính (+), hoặc bán định lượng, mang tính chất sàng lọc, chỉ phù hợp để xác định các chất cấm không được phép sử dụng như: hàn the, phẩm màu kiềm... Đối với các phụ gia thực phẩm được phép sử dụng, cần phải phân tích định lượng và so sánh với giới hạn quy định để đánh giá chất lượng. Các qui trình định lượng phụ gia thực phẩm hiện nay hầu hết chỉ được áp dụng tại tuyến trung ương và các phòng thí nghiệm vùng, chưa đáp ứng được nhu cầu giải quyết ngay các vụ việc liên quan đến an toàn thực phẩm tại chỗ và tuyến địa phương. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến tính thời sự của vấn đề, việc lấy mẫu và niêm phong trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng lớn đến việc lưu thông hàng hóa của doanh nghiệp, có những trường hợp sau khi phát hiện mẫu không đạt thì số lượng các mặt hàng này đã được tiêu thụ đáng kể.

Nhu cầu phân tích trực tiếp tại địa bàn và tuyến cơ sở là rất nhiều, nhưng lại thiếu về trang thiết bị và qui trình phân tích phù hợp. Do đó, việc phát triển các phương pháp phân tích đơn giản, gọn nhẹ, chi phí phù hợp, có khả năng phân tích hiệu quả phụ gia thực phẩm, đặc biệt có thể triển khai trực tiếp tại hiện trường, là rất cần thiết. Đó là lý do nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Lê Thị Hồng Hảo tại Viện Kiểm Nghiệm An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Quốc Gia thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng nhanh một số phụ gia thực phẩm bằng kỹ thuật điện di mao quản sử dụng thiết bị di động” từ năm 2017 đến năm 2019.
Đề tài hướng đến thực hiện các mục tiêu sau: xây dựng 04 quy trình phân tích nhanh đại diện 04 nhóm phụ gia thực phẩm: chất tạo ngọt, chất bảo quản, chất điều chỉnh độ acid, nhóm đường polyols bằng kỹ thuật điện di mao quản sử dụng thiết bị di động; và đánh giá 04 quy trình trên phân tích nhanh 04 nhóm phụ gia thực phẩm bằng kỹ thuật điện di mao quản sử dụng thiết bị di động tại hiện trường.
Đề tài đã thu được các kết quả nổi bật như sau:
Một là đã xây dựng được quy trình phân tích nhóm chất ngọt tổng hợp (bao gồm: Aspartam, saccarin, Acesulfam K, Cyclamat) sử dụng thiết bị CE-C 4D bao gồm các điều kiện sau:
- Điều kiện tối ưu tách và định lượng bằng CE-C 4D: cột mao quản silica, tổng chiều dài 60 cm, chiều dài hiệu dụng 50 cm, đường kính trong 75 µm; phương pháp bơm mẫu thủy động học kiểu xiphông với chiều cao bơm mẫu 10 cm và thời gian bơm mẫu 15s; dung dịch đệm điện di Tris/His (100 mM/10 mM), pH = 9,2; thế tách +15kV.
- Điều kiện tối ưu xử lý mẫu: chiết trong nước, lắc, lọc và phân tích trên thiết bị.
Hai là đã xây dựng được quy trình phân tích các chất bảo quản (benzoat, sorbat, tartrat, oxalat) sử dụng thiết bị CE-C 4D với các điều kiện sau:
- Điều kiện tối ưu tách và định lượng bằng CE-C 4D benzoat, sorbat, citrat: cột mao quản silica, tổng chiều dài 50 cm, chiều dài hiệu dụng 35 cm, đường kính trong 50 µm; phương pháp bơm mẫu thủy động học kiểu xiphông với chiều cao bơm mẫu 20 cm và thời gian bơm mẫu 30s; dung dịch đệm điện di Arg(10mM)/Ace, pH = 5,0; thế tách -20kV.
- Điều kiện tối ưu tách và định lượng bằng CE-C 4D tartarat, oxalat, citrat: dung dịch đệm điện di: đệm His 50mM - MES 30mM (pH - 6,3), CTAB 25µM; Thế tách: -15kV; Sử dụng mao quản silica trần, tổng chiều dài 60 cm, chiều dài hiệu dụng 50cm, đường kính trong 75µm; Thời gian bơm mẫu: 30s; Phương pháp bơm mẫu: thủy động lực học kiểu xiphông tại chiều cao 25cm.
- Điều kiện xử lý mẫu tối ưu: chiết trong nước cất, pha loãng nếu cần, lọc và phân tích trên thiết bị.
Ba là đã xây dựng được quy trình phân tích các chất chất điều chỉnh độ acid (bao gồm: acid formic, acid acetic, acid propionic, acid butyric, acid citric) sử dụng thiết bị CE-C 4D, với các điều kiện sau:
- Điều kiện tối ưu tách và định lượng bằng CE-C 4D: cột mao quản silica, tổng chiều dài 50 cm, chiều dài hiệu dụng 40 cm, đường kính trong 50 µm; phương pháp bơm mẫu thủy động học kiểu xiphông với chiều cao bơm mẫu 15 cm và thời gian bơm mẫu 20s; dung dịch đệm điện di His-Mes (30mM/40mM); thế tách -18kV.
- Điều kiện xử lý mẫu tối ưu: chiết trong nước cất, pha loãng nếu cần, lọc và phân tích trên thiết bị.
Bốn là đã xây dựng thêm được 01 quy trình phân tích các đường nhóm polyols (Erythritol, Mantitol, Xylitol) với các điều kiện như sau: Detector CE-C 4D, mao quản silica (tổng chiều dài 70cm, đường kính trong 50 µm), bơm mẫu thủy động học kiểu xiphông ở độ cao 20 cm, thời gian bơm mẫu 30s, dung dịch đệm điện di Borat (10Mm)/Boric pH = 8,0, thế tách +15 kV. Các đường chuẩn tuyến tính với hệ số tương quan R2> 0,999, MDL từ 0,4 - 3,5 mg/kg/L, MQL từ 1,5 - 11,5 mg/kg/L.
Năm là đã đánh giá hệ thiết bị và quy trình thử nghiệm xây dựng được tại hiện trường (chợ và siêu thị): đã tối ưu các thiết bị mang ra hiện trường, ứng dụng và phân tích một số mẫu tại thực địa cho thấy không có sự khác nhau có nghĩa so với kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm, khả năng ứng dụng cao của hệ thiết bị và quy trình thử nghiệm tại hiện trường
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20562/2022) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
N.P.D (NASATI)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











