Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Hợp tác xã nông nghiệp gắn với quản lý Nhà nước
Cập nhật vào: Thứ hai - 14/07/2025 13:05
Cỡ chữ
Tốc độ phát triển của công nghệ kỹ thuật số tiếp tục làm mờ ranh giới của thế giới trong các lĩnh vực vật lý, sinh học và kỹ thuật số. Chuyển đổi số (Digital Transformation) đang định nghĩa lại mô hình hoạt động của các ngành công nghiệp truyền thống, cách chúng ta sống và làm việc. Khối lượng dữ liệu được sản sinh ra ngày càng tăng, nhiều công nghệ tự động hóa, xử lý dữ liệu đang ngày một thông minh hơn và đang làm biến đổi sâu sắc xã hội.

Khi công nghệ kỹ thuật số trở thành nền tảng của nền kinh tế trong tương lai, các doanh nghiệp bắt buộc phải phát triển các mô hình kinh doanh, quy trình và công nghệ để theo kịp thị trường. Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng thành công các công nghệ mới nhất như: Điện toán đám mây , Dữ liệu lớn (BigData), Trí tuệ nhân tạo (AI), Blockchain, Internet vạn vật (IoT), VR… để sáng tạo, chuyển đổi mô hình hoạt động của chính mình. “Chuyển đổi số” không chỉ là công nghệ kỹ thuật số, mà là bước chuyển đổi trong đó công nghệ kỹ thuật số giúp cho mọi người giải quyết những vấn đề truyền thống một cách hiệu quả, nhanh chóng; giải pháp công nghệ số đóng vai trò là công cụ hỗ trợ để thúc đẩy quá trình khai thác và phát triển dựa trên những thành quả và lợi thế hiện có của giải pháp truyền thống.
Nhìn lại thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, đã có những bước chuyển biến rõ rệt, càng ngày hoạt động sản xuất nông nghiệp trở nên chủ động, hạn chế tối đa các ảnh hưởng của thiên tai, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Đặc biệt, trình độ nhận thức, khả năng tiếp cận các phương thức sản xuất mới, công nghệ mới từng bước được nâng cao. Tại Việt Nam, với sự phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin (CNTT) truyền thông, các nhà sản xuất được tiếp cận dễ dàng với các nguồn thông tin hữu ích phục vụ sản xuất kinh doanh (SXKD), từ đó kích thích sự tìm tòi, sáng tạo, đổi mới và tìm cách “LÀM THÔNG MINH”. Theo đó, mà xu hướng phát triển tất yếu của các chủ thể sản xuất theo hướng tốt lên, không ngừng cải tiến quy trình, không còn sản xuất chạy theo số lượng mà quan tâm hơn tới chất lượng và thị hiếu người tiêu dùng cũng như tiêu chuẩn thị trường đặt ra.
Thực tiễn khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão đặc biệt là các khoa học công nghệ có tác dụng thiết thực với sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân, nông thôn như: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ quang học, điện tử, cơ khí. Ở Việt Nam, nếu như công nghệ sinh học từ di truyền chọn giống, kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, thủy sản, chế biến nông lâm thủy sản đã phần nào đi vào thực tiễn các hoạt động sản xuất và kinh doanh nông nghiệp một cách có hệ thống thì khoa học công nghệ về cơ khí chính xác, về công nghệ thông tin, công nghệ số mới còn rất hạn chế, tự phát, và chậm chạp.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Kỹ sư Lê Anh Hoàng cùng nhóm nghiên cứu tại Hợp tác xã nông nghiệp số trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Hợp tác xã nông nghiệp gắn với quản lý Nhà Nước” với mục tiêu nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ số vào hoạt động SXKD của HTXNN gắn với quản lý nhà nƣớc nhằm thúc đẩy hoạt động SXKD của HTX nông nghiệp và đề xuất định hƣớng, chính sách và giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ số vào hoạt động SXKD của HTX NN gắn với quản lý nhà nƣớc đến năm 2025.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Về cơ sở phương pháp luận ứng dụng CNS vào hoạt động SXKD của HTXNN và hoạt hoạt động quản lý HTXNN của các cơ quan quản lý nhà nước:
Hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ tới các thành viên, người nông dân trong các khâu sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, HTX nông nghiệp vẫn còn gặp một số mặt hạn chế về cơ sở hạ tầng, vốn, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ số và khả năng nắm bắt thông tin thị trƣờng, sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu về chất lượng và nguồn gốc.
Hệ thống văn bản pháp lý và cơ chế chính sách hỗ trợ đã và đang dần được hoàn thiện, tạo khung pháp lý đầy đủ, chặt chẽ, khuyến khích thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp nhưng vẫn còn bộc lộ những hạn chế: Văn bản ban hành chậm, chưa phù hợp với điều kiện thực tế, hướng dẫn còn chung chung, chính sách hỗ trợ đặc thù ngành chưa phù hợp.
Để công nghệ số được vận dụng phù hợp vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX nông nghiệp, cần đánh giá đúng hiện trạng nhu cầu, điều kiện tiếp nhận và đặt trong bối cảnh phát triển chung của chương trình chuyển đổi số của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Tại nước ta, công nghệ số cũng đã được ứng dụng đa dạng ở nhiều khâu trong quá trình SXKD, mang lại hiệu quả tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh như: Tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng cường hiệu quả quản lý, điều hành, kiểm soát quy trình, tương tác trao đổi thông tin, kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm... Nhưng nhìn chung, các giải pháp công nghệ này đa phần chỉ mới áp dụng đồng bộ và bài bản ở các doanh nghiệp, còn với HTX nông nghiệp thì còn rất hạn chế.
Về thực trạng ứng dụng công nghệ số vào hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX NN
Hiện tại chất lượng nguồn nhân lực HTX chưa cao, việc ứng dụng các giải pháp công nghệ số đến tận thành viên hầu hết chưa được triển khai, hoạt động truy xuất nguồn gốc nông sản còn chƣa đƣợc thực hiện nghiêm túc, hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại trên môi trường số còn ít. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng lãnh đạo các HTX ngày càng được trẻ hóa, các HTX đã chú trọng đầu tư về thiết bị công nghệ thông tin (máy vi tính, điện thoại thông minh) để phục vụ kết nối, chia sẻ thông tin, đầu tư về hạ tầng đường truyền internet... đặc biệt là mức độ sẵn sàng tiếp nhận nhận và đầu tư các giải pháp công nghệ số cho thấy còn nhiều tiềm năng để ứng dụng và khai thác các giải pháp công nghệ số cho HTX nông nghiệp ở hiện tại và tương lai.
Thử nghiệm ứng dụng công nghệ số vào 30 HTXNN lựa chọn
Đề tài đã lựa chọn 30 HTXNN trong số 50 HTX đã điều tra để thử nghiệm ứng dụng các loại công nghệ số như: (1) Hệ thống quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc; (2) Mô hình website HTX nông nghiệp tích hợp lên cổng thông tin điện tử quản lý HTX nông nghiệp của Cục KTHT&PTNT; (3) Mô hình số hóa và quản lý dữ liệu báo cáo HTX nông nghiệp dựa trên đánh giá thực tiễn, giao diện, nghiệp vụ, tính năng phù hợp với nhu cầu và trình độ của HTX và thành viên. Đặc biệt là gắn với chính hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX nông nghiệp.
Về ứng dụng công nghệ số vào quản lý nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp từ Trung ương tới địa phương các cấp
Các cơ quan quản lý HTXNN từ Trung ương đến địa phương đang tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để phục vụ công tác quản lý, theo dõi, đánh giá hoạt động của các HTX. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về HTX nông nghiệp còn một số bất cập như: (1) Bộ máy quản lý về KTHT, HTX vừa yếu, vừa thiếu và phân tán; hệ thống thông tin quản lý chưa có hoặc lạc hậu; (2). Bất đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước khác nhau gây nên những sự chồng chéo nhất định trong việc thực thi quản lý và chính sách; (3). Thiếu nguồn lực để phục vụ các hoạt động chi thường xuyên trong công tác quản lý các HTX...
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20902/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











