Nghiên cứu tối ưu hoá kỹ thuật nuôi trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM) nhằm giảm chi phí thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm
Cập nhật vào: Thứ hai - 29/09/2025 00:04
Cỡ chữ
Nhằm tối ưu hóa kỹ thuật nuôi trưởng thành noãn non trong ống nghiệm (IVM), từ đó giảm chi phí cho quy trình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) - một vấn đề lớn đối với nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn.
TS. Vương Thị Ngọc Lan và các cộng sự tại Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe sinh sản, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tối ưu hoá kỹ thuật nuôi trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM) nhằm giảm chi phí thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm”. Để đạt được mục tiêu chung này, đề tài cụ thể hóa thành ba mục tiêu chính:
- Xây dựng và hoàn thiện quy trình IVM cải tiến (CAPA-IVM), sau đó đánh giá hiệu quả ứng dụng của nó trong điều trị hiếm muộn trên lâm sàng.
- Kiểm tra sự biểu hiện gen của tế bào cumulus để xác định các dấu ấn sinh học, giúp làm rõ trạng thái trưởng thành (cả về giảm phân và tế bào chất) của noãn trong quy trình CAPA-IVM.
- Đánh giá sự phát triển thể chất, tâm thần và vận động của trẻ sinh ra từ kỹ thuật CAPA-IVM, nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả lâu dài của phương pháp này.
Sau một thời gian thực hiện, đề tài đã thu được nhiều kết quả quan trọng, chứng minh hiệu quả và tính an toàn của kỹ thuật nuôi trưởng thành noãn non trong ống nghiệm hai pha (CAPA-IVM).
Nghiên cứu cho thấy CAPA-IVM vượt trội hơn các quy trình IVM cũ, giúp tăng tỉ lệ noãn trưởng thành và số lượng phôi chất lượng tốt, đồng thời mang lại tỉ lệ có thai lâm sàng cao hơn. Đặc biệt, so với kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) cổ điển (có kích thích buồng trứng đầy đủ), CAPA-IVM đạt tỉ lệ có thai và sinh em bé tương đương nhưng lại giảm đáng kể nguy cơ hội chứng quá kích buồng trứng. Đây là bằng chứng đầu tiên trên thế giới cho thấy IVM có thể đạt hiệu quả tương đương TTTON truyền thống, đồng thời an toàn hơn. Các kết quả này đã được công bố trên các tạp chí uy tín như Journal of Assisted Reproduction and Genetics (2019, 2020) và Human Reproduction (2020).
Việc bổ sung Amphiregulin vào môi trường CAPA-IVM đã được chứng minh là có khả năng tăng tỉ lệ noãn trưởng thành, cải thiện chất lượng phôi và tăng tỉ lệ có thai, đặc biệt ở phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Nghiên cứu cũng là công trình đầu tiên trên thế giới đánh giá biểu hiện gen của tế bào cumulus và hiệu quả của Amphiregulin trong IVM, được đăng trên Human Reproduction.
Ngoài ra, nghiên cứu quy mô lớn đã theo dõi sự phát triển của trẻ sinh ra từ CAPA-IVM so với TTTON thông thường. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về thể chất, tâm thần và vận động giữa hai nhóm trẻ, khẳng định tính an toàn của kỹ thuật CAPA-IVM đối với sự phát triển của trẻ. Nghiên cứu này cũng được công bố trên Human Reproduction.
Các nghiên cứu nhánh khác cũng chỉ ra rằng chuyển phôi đông lạnh có xu hướng mang lại tỉ lệ có thai cao hơn so với chuyển phôi tươi sau CAPA-IVM. Về mối liên hệ giữa các kiểu hình PCOS và kết quả CAPA-IVM, nghiên cứu ban đầu cho thấy kiểu hình PCOS phổ biến ở phụ nữ Việt Nam là A và D, và chưa ghi nhận sự tác động rõ rệt của kiểu hình lên kết cục điều trị IVM.
Tóm lại, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, nâng cao giá trị của CAPA-IVM trong điều trị hiếm muộn. Kỹ thuật này không chỉ an toàn, hiệu quả tương đương IVF/ICSI nhưng với chi phí thấp hơn, mà còn giảm biến chứng cho bệnh nhân có nhiều nang thứ cấp. Các công bố khoa học trên các tạp chí hàng đầu thế giới đã khẳng định đóng góp của nghiên cứu vào y văn, đồng thời củng cố vị thế của nhóm nghiên cứu như một trong những đơn vị dẫn đầu thế giới về khoa học và đào tạo kỹ thuật CAPA-IVM.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21109/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











