Nghiên cứu tiến hóa kiến tạo - magma và sinh khoáng Sn W Au đa kim vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa
Cập nhật vào: Thứ tư - 21/05/2025 00:05
Cỡ chữ
Hầu hết các đới kiến tạo - sinh khoáng trên lãnh thổ Việt Nam đều phát triển kéo dài sang các khu vực thuộc nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong đó có đới Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa,... Vì vậy việc nghiên cứu đối sánh tổng hợp các đới kiến tạo - sinh khoáng sẽ mang lại sự hiểu biết toàn diện hơn về đặc điểm địa chất - kiến tạo - sinh khoáng của các đai tạo khoáng. Đồng thời cùng với quá trình hợp tác song phương giữa hai nước, ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam tiến hành đầu tư về lĩnh vực thăm dò và khai thác khoáng sản tại nước CHDCND Lào. Trên cơ sở đó, ngày 16 tháng 9 năm 2016, Cục Địa chất và Khoáng sản Lào có công văn đề xuất số 061/Pb.CTH về việc hợp tác nghiên cứu về địa chất; tìm kiếm, điều tra, thăm dò khoáng sản; nâng cao trình độ nghiên cứu cho các Cán bộ của Lào.

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế và hợp tác song phương ngày càng chặt chẽ giữa hai nước, ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam tiến hành đầu tư về lĩnh vực thăm dò và khai thác khoáng sản tại nước CHDCND Lào. Trên cơ sở đó, ngày 16 tháng 9 năm 2016, Cục Địa chất và Khoáng sản Lào có công văn đề xuất số 061/Pb.CTH về việc hợp tác nghiên cứu địa chất khu vực; tìm kiếm – điều tra, thăm dò khoáng sản, giải quyết các vấn đề về môi trường và tai biến địa chất vùng Đông Bắc Lào; nâng cao trình độ nghiên cứu, tổ chức và quản lý tài nguyên khoáng sản của Lào.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài ThS. Lưu Công Trí cùng nhóm nghiên cứu tại Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc thực hiện đề tài “Nghiên cứu tiến hóa kiến tạo - magma và sinh khoáng Sn W Au đa kim vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa” với mục tiêu: Làm rõ cấu trúc địa chất, tiến hóa kiến tạo - magma và tiềm năng sinh khoáng vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa (trọng tâm ở phía Lào); Làm rõ đặc điểm thành phần vật chất, nguồn gốc, điều kiện thành tạo quặng hóa tại các tụ khoáng Sn, W, Au, đa kim điển hình trong vùng nghiên cứu.
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
1- Cấu trúc địa chất vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa:
- Địa tầng: Trên cơ sở đối sánh địa tầng vùng Tây Bắc Nghệ An và vùng Sầm Nưa dựa vào đặc điểm thạch học, quan hệ địa chất và tuổi thành tạo, các phân vị địa tầng trong khu vực được liên kết và sắp xếp lại như sau: 1- Các thành tạo biến chất Tiền Cambri. 2- Các thành tạo biến chất Cambri muộn - Ordovic sớm. 3- Các thành tạo trầm tích Ordovic muộn - Silur sớm. 4- Các thành tạo trầm tích Silur muộn - Devon sớm. 5- Các thành tạo trầm tích lục nguyên - carbonat Carbon sớm. 6- Các thành tạo trầm tích lục nguyên Carbon - Permi giữa. 7- Các thành tạo trầm tích – phun trào Trias giữa. 8- Các thành tạo trầm tích lục địa vụn thô Jura – Creta. 9- Trầm tích Đệ tứ.
- Magma xâm nhập và đá núi lửa: Kết quả phân tích địa hóa, đồng vị, tuổi tuyệt đối và trên cơ sở đối sánh, liên kết các thành tạo xâm nhập. Vùng nghiên cứu có các tổ hợp sau: 1- Tổ hợp xâm nhập Tiền Cambri bị biến dạng; 2- Tổ hợp xâm nhập á núi lửa Trias; 3- Tổ hợp xâm nhập axit Oligocen - Miocen; 4- Tổ hợp phun trào nguồn núi lửa. Trong đó, tổ hợp xâm nhập axit Oligocen - Miocen gồm granit biotit hạt nhỏ đến thô, granosyenit, granit dạng porphyr. Các đá thuộc loạt kiềm - vôi cao kali, kiểu S granit hình thành từ lớp vỏ lục địa trên. Tổ hợp này được thành tạo trong 2 giai đoạn: 28 tr.n (Oligocen muộn) và 24 tr.n (Miocen sớm).
- Cấu trúc - kiến tạo: Vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa thuộc một phần của 3 đới cấu trúc là các đới: Phu Hoạt, Sầm Nưa, Sông Cả. Các đứt gãy chính gồm: Sông Cả, Bản Chiềng, Mường Hinh. Một số đới mylonit và cataclasit đóng vai trò là các kênh dẫn dung dịch nhiệt dịch chứa quặng như: đới mylonit Huổi Chừn phương á vĩ tuyến; các đới dăm kết kiến tạo khu vực Cắm Muộn phương TB-ĐN, đới skarn Tri Lễ phương TB-ĐN.
2- Tiến hóa kiến tạo - magma vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa: Vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa đã trải qua 5 giai đoạn phát triển kiến tạo với 22 các loại hình khoáng sản liên quan như sau: 1- Giai đoạn Proterozoi muộn - Paleozoi sớm (Fe, Mn, đá quý); 2- Giai đoạn Paleozoi giữa (sắt manhetit, đá quý, pyrit, vật liệu xây dựng); 3- Giai đoạn Paleozoi muộn – Merozoi sớm (Au, Cu, As, than antracit,…); 4- Giai đoạn Merozoi muộn (thạch cao); 5- Giai đoạn Kainozoi (Sn, W, Pb-Zn, Fe, Mo, than nâu, đất hiếm, vật liệu xây dựng,...).
3- Đặc điểm thành phần vật chất, nguồn gốc và điều kiện thành tạo quặng Sn, W, Au, đa kim vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa:
- Quặng Sn, W, đa kim vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa có thành phần khoáng vật gồm: casiterit, galenit, sphalerit, manhetit thường chiếm ưu thế; volframit và sheelit ít gặp hơn. Các thân quặng thường nằm tại nơi tiếp giáp giữa các tập đá biến chất cổ với các thành tạo magma xâm nhập Paleogen (vùng Tây Bắc Nghệ An) hoặc nằm trong những đới biến dạng sâu (milonit, cataclasit) phương á vĩ tuyến cắt qua các thành tạo trầm tích – biến chất Tiền Cambri (vùng Sầm Nưa). Nghiên cứu về bao thể và đồng vị cho thấy quặng Sn, W, đa kim được hình thành tại nhiệt độ trung bình 224 độ C, độ sâu trung bình 2,2 km. Vật chất tạo quặng điển hình cho nguồn vỏ và có liên quan đến các khối granit porphyr tuổi Oligocen - Miocen. Dung dịch tạo quặng có nguồn gốc từ nước biến chất các thành tạo trầm tích gần bề mặt.
- Quặng vàng vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa thường phân bố trong các mạch thạch anh – sulfur nhiệt dịch xuyên lấp vào các đới dập vỡ, biến đổi của cấc thành tạo phun trào trung tính - axit tuổi T2, chủ yếu ở vùng Tây Bắc Nghệ An (các điểm quặng Au xã Cắm Muộn, huyện Quế Phong). Các đới khoáng hóa Au thường có liên quan chặt chẽ đến các đứt gãy kéo dài theo phương TB-ĐN. Thành phần khoáng vật quặng bao gồm: vàng tự sinh, pyrit, arsenopyrit. Nghiên cứu về bao thể, đồng vị cho thấy quặng Au vùng Tây Bắc Nghệ An hình thành ở nhiệt độ trung bình là 175 độ C, áp suất trung bình 461 Pa, độ sâu thành tạo trung bình 1,7 km. Nguồn vật chất tạo quặng là nguồn sulfur được tách từ các thành phần nguồn vỏ trên. Dung dịch tạo quặng Au có nguồn gốc từ nước biến chất các thành tạo trầm tích gần bề mặt.
4- Khoanh vùng triển vọng khoáng sản, định hướng cho công tác tìm kiếm, đánh giá tiếp theo: Kết quả nghiên cứu đã khoanh định các diện tích triển vọng theo 03 cấp độ: 1- Diện tích triển vọng cấp A là phần diện tích vùng ven các khu: mỏ quặng thiếc - đa kim Huổi Chừn, mỏ quặng Fe-Sn Tri Lễ, các điểm quặng Au xã Cắm Muộn (Nghệ An); 2- Diện tích triển vọng cấp B gồm: điểm quặng đa kim Bản Luông, các điểm quặng sa khoáng; 3- Diện tích triển vọng cấp C: là những phần diện tích có sự phân bố của các điểm khoáng hóa Sn, W, Au, đa kim. Trên cơ sở phân vùng triển vọng, tập thể tác giả đã lựa chọn phương pháp tính thẳng đứng theo các thông số quặng hóa để đánh giá tiềm năng quặng Sn, W, Au, đa kim vùng Tây Bắc Nghệ An - Sầm Nưa. Theo phương pháp trên thì: Tổng tài nguyên cấp 334a quặng Fe-Sn vùng Tri Lễ (Nghệ An) là khoảng 175.658 tấn, cấp 334b là khoảng 179.543 tấn. Tổng tài nguyên cấp 333 quặng Sn - đa kim mỏ Huổi Chừn là khoảng 443.903 tấn. Tổng tài nguyên cấp 334b quặng Au xã Cắm Muộn (Nghệ An) là khoảng 908 kg.
Các phương pháp điều tra - đánh giá được đề xuất gồm: 1- Khảo sát địa chất ở tỷ lệ 1:25.000 và 1:10.000 kết hợp đo vẽ bản đồ thạch học cấu trúc; 2- Phương pháp địa hóa nguyên sinh và thứ sinh; 3- Thi công một số công trình hào, hố, khoan để kiểm tra dưới sâu; 4- Lấy và gia công, phân tích một số loại mẫu, trong đó tập trung chủ yếu vào mẫu khoáng tướng và mẫu kỹ thuật. Một số phương pháp thăm dò có thể được áp dụng đối với các diện tích triển vọng cấp A gồm: 1- Khảo sát địa chất ở tỷ lệ 1:2.000 và lớn hơn; 2- Phương pháp đo từ và đo điện địa vật lý; 3- Thi công các công trình khoan - khai đào (hào, giếng, lò) kết hợp lấy mẫu rãnh; 4- Lấy, gia công và phân tích các loại mẫu.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20756/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








