Nghiên cứu thực trạng sản xuất kinh doanh và mức độ ô nhiễm sinh học hóa học trong một số thực phẩm cho trẻ em và phụ nữ mang thai
Cập nhật vào: Thứ năm - 11/09/2025 11:06
Cỡ chữ
Sữa và các sản phẩm từ sữa được xếp vào loại thực phẩm nhạy cảm, có “độ rủi ro cao” với nguy cơ cao nhiễm vi sinh vật cũng như hóa chất độc hại. Trẻ em và phụ nữ mang thai là nhóm dễ bị tổn thương nhất trong cộng đồng khi sử dụng phải thực phẩm không an toàn. Phụ nữ có thai và trẻ nhỏ là đối tượng có nhu cầu dinh dưỡng lớn, và sữa là nguồn dinh dưỡng quan trọng có thể cung cấp canxi trong giai đoạn đặc biệt này, cũng như các chất dinh dưỡng thiết yếu khác ở tỷ lệ cân đối rất tốt cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Sữa, sản phẩm từ sữa không an toàn sẽ ảnh hưởng lâu dài đến trẻ em, ảnh hưởng tới sự phát triển cả về thể chất và trí tuệ của trẻ. Sữa, sản phẩm từ sữa không an toàn sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển giống nòi của dân tộc.

Hiện nay, công tác quản lý, giám sát chất lượng các loại sữa, sản phẩm từ sữa cho trẻ em và phụ nữ mang thai ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Trước tình hình thế giới và Việt Nam như vậy, công tác đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) ở nước ta nói chung và đảm bảo ATTP cho trẻ em, phụ nữ mang thai nói riêng phải đối mặt với một thực trạng hết sức khó khăn và nặng nề. Xuất phát từ những vấn đề trên, việc tiến hành nghiên cứu có hệ thống, đánh giá thực trạng an toàn vệ sinh đối với các loại sữa, sản phẩm từ sữa dành cho trẻ em và phụ nữ mang thai ở Việt Nam, phân tích những yếu tố nguy cơ và xây dựng thành công các giải pháp giám sát an toàn vệ sinh thực phẩm với những thực phẩm này là rất cần thiết. Vì thế, nhóm nghiên cứu của PGS. TS. Vũ Đình Chính tại Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sản xuất kinh doanh và mức độ ô nhiễm sinh học hóa học trong một số thực phẩm cho trẻ em và phụ nữ mang thai” trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2022.
Đề tài hướng đến thực hiện các mục tiêu sau: đánh giá thực trạng sản xuất, kinh doanh một số thực phẩm cho trẻ dưới 36 tháng và phụ nữ mang thai tại Việt Nam; xác định mức độ ô nhiễm sinh học, hóa học trong một số thực phẩm cho trẻ dưới 36 tháng và phụ nữ mang thai; và xây dựng tài liệu hướng dẫn và giải pháp truyền thông tích cực nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm sinh học và hóa học trong một số thực phẩm nói trên.
Về thực trạng sản xuất công tác quản lý: hầu hết hệ thống phòng thí nghiệm của các cơ sở có đủ các thiết bị để phân tích các chỉ tiêu và thông số quan trọng trong quá trình sản xuất. Hầu hết cơ sở có chất lượng hệ thống cấp nước, thoát nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh (93,33%); có 66,7% hệ thống quản lý chất thải, hệ thống kiểm dịch, phương tiện vệ sinh cá nhân và khu vực vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Tuy nhiên, vẫn còn cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, điều kiện nhà xưởng không đảm bảo vệ sinh, chất lượng sản phẩm không được kiểm tra, kiểm soát.
Thực trạng tuân thủ hệ thống phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP): hầu hết các cơ sở đều có hướng dẫn mô tả sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn có 34,17% cở sở không kiểm soát tới hạn ở giai đoạn tiệt trùng nguyên liệu và 45,0% ở giai đoạn tiệt trùng bao bì. Tỷ lệ cơ sở có kế hoạch thẩm tra định kỳ còn thấp...
Về thực trạng ô nhiễm ô nhiễm sinh học, hóa học trong một số thực phẩm cho trẻ dưới 36 tháng và phụ nữ mang thai, nghiên cứu cho kết quả như sau:
Đối với sữa và sản phẩm từ sữa cho trẻ em dưới 36 tháng tuổi
- Nhiễm vi khuẩn: chất béo từ sữa có nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Vi khuẩn bị nhiễm nhiều nhất là Listeria monocytogenes.
- Ô nhiễm kim loại nặng: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm nhiều nhất là sữa lỏng, phomat và sữa lên men. Kim loại bị ô nhiễm nhiều nhất là thủy ngân.
- Ô nhiễm thuốc thú y: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm nhiều nhất là sữa lên men.
- Nhiễm Aflatoxin M1: sữa lỏng có nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Trong đó, có 6,00% mẫu sữa lỏng, 5,00% chất béo ô nhiễm Aflatoxin M1.
- Nhiễm melamin: sửa lỏng và chất béo có nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Trong đó, có 0,67% mẫu sữa bột, 1,33% mẫu sữa lỏng, 1,33% mẫu mẫu chất béo, 1,00% mẫu sữa lên men ô nhiễm melamin.
Đối với sữa và sản phẩm từ sữa cho phụ nữ mang thai
- Nhiễm vi khuẩn: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm cao nhất là phomat, chất béo và sữa lên men. Vi khuẩn nhiễm nhiều nhất là Listeria monocytogenes.
- Ô nhiễm kim loại nặng: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm nhiều nhất là phomai và sữa lên men. Kim loại hay bị ô nhiễm nhất là thủy ngân.
- Ô nhiễm thuốc thú y: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm nhiều nhất là sữa bột và sữa lỏng.
- Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm nhiều nhất là chất béo từ sữa. Trong đó, có 6,67% mẫu phomat, 14,67% mẫu chất béo ô nhiễm Emamectin benzoate; 2,00% mẫu chất béo ô nhiễm Carbaryl.
- Nhiễm Aflatoxin M1: sản phẩm có nguy cơ ô nhiễm nhiều nhất là sữa bột và chất béo từ sữa. Trong đó, có 2,00% mẫu sữa bột, 3,33% sản phẩm chất béo và 2,0% sữa lên men ô nhiễm Aflatoxin M1.
- Nhiễm melamin: phomat có nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Trong đó, có 1,00% sữa lỏng, 1,33% phomat và 1,0% sữa lên men ô nhiễm melamin.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng tài liệu hướng dẫn và giải pháp truyền thông tích cực giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm sinh học, hóa học trong một số thực phẩm nói trên.
- Đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ ô nhiễm tác nhân sinh học và hóa học trong quá trình chăn nuôi, thu mua nguyên liệu sữa.
- Đề xuất điều kiện trong chăn nuôi bò sữa: (1) Biện pháp tăng cường quản lý cỏ, (2) Chế độ cho bò ăn, (3) Kiểm soát sức khỏe bò, (4) Vệ sinh cơ thể bò, (5) Vệ sinh vú bò, (6) Chuồng trại chăn nuôi và thiết bị, dụng cụ trong vắt sữa, (7) Phương pháp vắt sữa, (8) Vắt sữa và quản lý vắt sữa.
- Đề xuất biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất sữa, sản phẩm từ sữa tại các cơ sở sản xuất, nhà máy: Xây dựng chương trình Thực hành sản xuất tốt GMP và áp dụng hệ thống HACCP trong quá trình sản xuất.
- Xây dựng 4 tài liệu hướng dẫn: (1) Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trong đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ em dưới cho trẻ dưới 36 tháng và phụ nữ mang thai; (2) Sổ tay hướng dẫn truyền thông tích cực nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; (3) Cẩm nang mai thai; (4) Dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21248/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
N.P.D (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











