Nghiên cứu nâng cao năng suất và sử dụng có hiệu quả nguồn gen vịt Hòa Lan tại Đồng bằng sông Cửu Long
Cập nhật vào: Thứ ba - 25/11/2025 12:05
Cỡ chữ
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không chỉ là vựa lúa và hải sản xuất khẩu, mà còn có tiềm năng lớn trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là vịt, đóng góp đáng kể vào nguồn cung thực phẩm trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi gia cầm còn giúp tận dụng lao động nhàn rỗi ở nông thôn, giải quyết việc làm. Theo Tổng cục Thống kê (04/2021), năm 2020, Việt Nam có hơn 86 triệu con vịt, chiếm 16,88% tổng đàn gia cầm, với sản lượng trứng đạt 5,48 tỷ quả và thịt hơi đạt 340.218 tấn, tăng trưởng ấn tượng so với năm 2015. ĐBSCL đặc biệt nổi bật khi chiếm 30-35% tổng đàn vịt cả nước, nhờ khí hậu cận xích đạo thuận lợi cho trồng lúa và thủy sản, tạo điều kiện lý tưởng để tận dụng phát triển chăn nuôi vịt.

Bên cạnh việc nhập khẩu giống vịt cao sản, việc bảo tồn và phát triển các giống vịt địa phương có nguồn gen quý như vịt Hòa Lan là hết sức cần thiết. Mặc dù vịt Hòa Lan được nuôi nhỏ lẻ tại các nông hộ ĐBSCL, nhưng do điều kiện kinh tế và trình độ kỹ thuật còn hạn chế, các đàn giống thường cho năng suất thấp và tỷ lệ hao hụt cao. Nhận thấy giá trị của giống vịt này, vịt Hòa Lan đã được đưa vào chương trình bảo tồn vật nuôi từ năm 2014 nhằm bảo tồn nguồn gen quý trong hệ thống vịt bản địa và đóng góp vào sự đa dạng sinh học của giống vịt Việt Nam. Hiện nay, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm từ vịt Hòa Lan rất lớn, nhưng các cơ sở chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ.
Trước thực tế đó, và việc chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về chọn lọc, nhân giống hay áp dụng các giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất sinh trưởng, sinh sản và chất lượng thịt, trứng của vịt Hòa Lan, việc nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất, xây dựng tiêu chuẩn giống, quy trình chọn đàn hạt nhân và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp cho vịt Hòa Lan sinh sản là cực kỳ cấp thiết. Điều này sẽ giúp cung cấp con giống cũng như các sản phẩm thịt, trứng chất lượng cao cho xã hội. Từ yêu cầu thực tiễn này, ThS. Hoàng Tuấn Thành cùng các cộng sự tại Phân viện Chăn nuôi Nam Bộ, Viện Chăn nuôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu nâng cao năng suất và sử dụng có hiệu quả nguồn gen vịt Hòa Lan tại Đồng bằng sông Cửu Long”
Sau thời gian triển khai, đề tài đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn gen vịt Hòa Lan tại Đồng bằng sông Cửu Long.
1. Điều tra khảo sát và xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu: Đề tài đã tiến hành điều tra 200 hộ chăn nuôi tại Long An, Tiền Giang và Bến Tre. Kết quả điều tra cung cấp cái nhìn tổng quan về hiện trạng chăn nuôi tại ĐBSCL, tạo nền tảng dữ liệu ban đầu cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
2. Chọn lọc và xây dựng đàn hạt nhân vịt Hòa Lan:
- Tiêu chuẩn và Quy trình: Đã xây dựng thành công 01 Tiêu chuẩn cơ sở và 01 Quy trình chọn lọc đàn hạt nhân vịt Hòa Lan.
- Phân tích di truyền: Phân tích ADN đã xác định được đa dạng di truyền của giống vịt Hòa Lan, mở ra hướng bảo tồn và phát triển bền vững.
- Xây dựng đàn hạt nhân: Đã tuyển chọn và xây dựng được đàn hạt nhân vịt Hòa Lan với quy mô 250 mái sinh sản qua 4 thế hệ (G0, G1, G2, G3).
3. Đặc điểm ngoại hình và tính năng sản xuất của đàn hạt nhân vịt Hòa Lan:
- Ngoại hình: Vịt con 01 ngày tuổi có lông đen pha vàng nhạt ở đầu, cổ, lưng, cánh và bụng vàng nhạt, có 4 chấm vàng nhạt trên lưng và sọc lông đen kéo dài từ sau mỏ ra gáy. Mỏ và chân có màu vàng nhạt hoặc loang đen nhạt. Vịt 20 tuần tuổi, vịt mái có lông cánh sẻ nhạt, mỏ vàng/xám, chân vàng cam/đen/nâu xám. Vịt trống có lông trắng và trắng xám pha đen ánh xanh, màu cánh sẻ sẫm hơn vịt mái và có lông móc ở đuôi. Mỏ trống đen/xám xanh, chân vàng cam/đen/nâu xám.
- Tính năng sản xuất: Đàn hạt nhân vịt Hòa Lan đạt 5% sản lượng trứng ở 145 ngày tuổi với khối lượng vịt mái là 1772,3 g/con. Năng suất trứng trung bình đạt 227,10 quả/mái/năm, tỷ lệ đẻ trung bình 62,39%, tiêu tốn thức ăn 2,96 kg/10 quả trứng và khối lượng trứng trung bình 74,5 g/quả. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 94,3%, tỷ lệ nở trên trứng có phôi là 87,1% và trên tổng số trứng ấp là 82,1%.
4. Chọn lọc và xây dựng đàn sản xuất vịt Hòa Lan:
- Tiêu chuẩn và Mô hình: Đã xây dựng 01 Tiêu chuẩn cơ sở đàn sản xuất vịt Hòa Lan và xây dựng 2 mô hình đàn sản xuất quy mô 1000 mái sinh sản.
- Tính năng sản xuất: Đàn sản xuất đạt 5% sản lượng trứng ở 144 ngày tuổi với khối lượng vịt mái là 1724,5 g/con. Năng suất trứng trung bình đạt 220,21 quả/mái/năm, tỷ lệ đẻ trung bình 60,50%, tiêu tốn thức ăn 3,35 kg/10 quả trứng và khối lượng trứng trung bình 74,3 g/quả. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 93,3%, tỷ lệ nở trên trứng có phôi là 85,4% và trên tổng số trứng ấp là 79,7%.
5. Xây dựng quy trình chăn nuôi và chuyển giao công nghệ:
- Quy trình chăn nuôi: Hoàn thành 07 thí nghiệm nghiên cứu, từ đó xây dựng thành công 01 Quy trình chăn nuôi vịt Hòa Lan sinh sản hiệu quả cao.
- Hội thảo khoa học: Tổ chức 01 buổi Hội thảo khoa học tại Tiền Giang nhằm giới thiệu các tiến bộ kỹ thuật mới trong quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, chia sẻ kết quả thực tế và hiệu quả kinh tế của các mô hình đàn sản xuất đến người chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật và quản lý chăn nuôi địa phương.
Những kết quả này không chỉ đóng góp vào công tác bảo tồn nguồn gen vịt bản địa mà còn mở ra tiềm năng lớn cho việc phát triển chăn nuôi vịt Hòa Lan theo hướng công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao thu nhập cho người dân ĐBSCL.
Mặc dù đàn hạt nhân vịt Hòa Lan đã được tuyển chọn thành công, một số chỉ tiêu quan trọng như khối lượng cơ thể, khối lượng trứng và năng suất trứng vẫn còn có hệ số biến dị lớn. Để ổn định và tối ưu hóa năng suất, đề tài kiến nghị tiếp tục công tác chọn lọc thêm 2-3 thế hệ nữa. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến năng suất như mật độ nuôi và tỷ lệ ghép trống mái phù hợp. Việc này sẽ giúp hoàn thiện quy trình chăn nuôi, đảm bảo chuyển giao công nghệ một cách đồng bộ và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi. Nhóm thực hiện đề tài cũng đề xuất phát triển kết quả của nhiệm vụ này thành một Dự án sản xuất thử nghiệm để đưa những thành tựu nghiên cứu vào thực tiễn một cách hiệu quả và bền vững.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21170/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








