Nghiên cứu giải pháp quản lý và công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng chế phẩm sinh học nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí vùng ven đô
Cập nhật vào: Thứ ba - 08/09/2026 00:04
Cỡ chữ
Việc đốt rơm rạ của nông dân khu vực ven đô Thành phố Hà Nội không chỉ gây ô nhiễm tại khu vực đốt rơm rạ, mà các chất ô nhiễm còn theo gió phát tán ra vùng rộng lớn, làm gia tăng ô nhiễm không khí cho Thủ đô, tác động xấu đến an toàn giao thông, hạn chế tầm nhìn của người dân khi lưu thông trên các tuyến đường. Trong 5 năm trở lại đây Thủ đô Hà Nội là một trong những đô thị phải hứng chịu tình trạng ô nhiễm không khí kéo dài do ảnh hưởng của hiện tượng đốt rơm rạ của người dân khu vực ven đô. Nhiều điểm đo quan trắc ô nhiễm tại Thành phố vượt ngưỡng đỏ lên tới ngưỡng tím (chỉ số AQI vượt 200) là ngưỡng có hại cho sức khỏe. Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm không khí nghiêm trọng tại Thành phố Hà Nội đã được xác định là do hiện tượng nghịch nhiệt và tình trạng đốt rơm rạ tràn lan sau thu hoạch lúa gây ra, ảnh hưởng đến chất lượng không khí khu vực và bức xạ của trái đất.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Văn Thiết cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Môi trường Nông nghiệp thực hiện “Nghiên cứu giải pháp quản lý và công nghệ xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng chế phẩm sinh học nhằm giảm thiểu ô nhiễm không khí vùng ven đô” với mục tiêu:
- Xác định hạn chế của chính sách và rào cản về kỹ thuật trong quản lý phụ phẩm nông nghiệp
- Xây dựng mô hình xử lý rơm rạ tại chỗ bằng chế phẩm sinh học làm phân bón tại khu vực sản xuất nông nghiệp ven đô thành phố Hà Nội
- Xây dựng được các mô hình quản lý tổng hợp rơm rạ tại khu vực sản xuát nông nghiệp ven đô thành phố Hà Nội
- Xây dựng dự thảo đề án quản lý tổng hợp phụ phẩm nông nghiệp quy mô toàn quốc.
Đề tài xử lý rơm rạ bằng giải pháp vi sinh có kết hợp với giải pháp cơ giới, để hỗ trợ cho quá trình xử lý nhanh hơn, ít tốn công lao động hơn, chi phí thực hiện thấp hơn, đạt hiệu quả hơn so với các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào ủ Compost với chế phẩm vi sinh vật theo phương pháp truyền thống.
Sử dụng giải pháp cơ giới bằng cách sử dụng máy cày có bộ phận băm vật liệu để băm nhỏ rơm rạ trực tiếp trên đồng ruộng với kích thước rơm rạ từ 3-5 cm. Sau khi rơm rạ được máy băm nhỏ trên đồng ruộng, chế phẩm vi sinh vật sẽ được phun trực tiếp lên trên. Sử dụng phương pháp này sẽ làm tăng hiệu quả xử lý rơm rạ, rút ngắn thời gian xử lý, đảm bảo phù hợp với khoảng thời gian giãn cách giữa 2 vụ chiêm và vụ mùa, giảm tối đa khả năng gây ngộ độc cho lúa sau cấy.

Biểu đồ thể hiện năng suất của lúa ở các mô hình tại các địa điểm nghiên cứu
Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Kết quả về khoa học:
- Cơ chế chính sách trong quản lý phụ phẩm nông nghiệp: Hầu hếtlà mang tính định hướng cho việc thu gom, xử lý và sử dụng phụ phẩm trồng trọt cho các mục tiêu bảo vệ môi trường. Chưa có chính sách hỗ trợ vốn, công nghệ để áp dụng đồng bộ trên diện rộng. Chính sách của nhà nước ta chưa quy định cụ thể và chế tài xử phạt đối với các hành vi đốt, vứt bỏ phụ phẩm trồng trọt bừa bãi gây ô nhiễm môi trường.
- Rào cản về quản lý phụ phẩm nông nghiệp:Chủ yếu do nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm đến quản lý phụ phẩm nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Quan điểm chờ đợi hỗ trợ của nhà nước còn tương đối phổ biến. Tổ chức quản lý còn đan xen, thiếu đơn vị đầu mối, chưa rõ trách nhiệm quản lý, vai trò cấp quản lý cơ sở còn rất hạn chế, trình độ quản lý môi trường trong sản xuất nông nghiệp còn thấp.
- Mức độ gây ô nhiễm môi trường không khí do đốt rơm rạ ngoài đồng vùng ngoại ô thành phố Hà Nội: Kết quả phân tích mẫu không khí thu tại các cánh đồng thuộc 6 xã triển khai mô hình của đề tài cho thấy, việc đốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường, các điều kiện sống của con người và vật nuôi. Cụ thể hàm lượng khí SO2tại xã Hương Ngải (354,7 µg/m3 ) và xã Thượng Cốc (375 µg/m3 ) vượt ngưỡng cho phép QCVN 05:2013/BTNMT (quy định hàm lượng khí SO2 nhỏ hơn 350 µg/m3 ). Hàm lượng khí CO2 (mg/m3 ) được quan trắc tại các xã cũng đều cao hơn từ 5-10 lần so với điều kiện không khí trong điều kiện bình thường.
Kết quả nghiên cứu mô hình thí điểm xử lý rơm rạ trực tiếp trên đồng ruộng cho thấy:
- Sau khi kết thức vụ lúa Đông Xuân (vụ Xuân) thời gian đất nghỉ và chuẩn bị gieo cấy vụ Hè Thu rất ngắn, do đó phương pháp sử dụng máy gặt đập liên hoàn thế hệ mới có tính năng băm rơm rạ, hạ cần cắt sát gốc rạ băm trực tiếp rơm rạ tươi kết hợp phun chế phẩm vi sinh vật xử lý rơm rạ cho hiệu quả, dễ thực hiện và có tính khả thi cao nhất.
- Sau khi kết thúc vụ lúa Hè Thu (vụ mùa) thời gian đất nghỉ khá dài, do đó sử dụng máy làm đất kết hợp băm rơm rạ (nếu không trồng cây vụ đông) hoặc sử dụng máy làm đất kết hợp lên luống có tính năng băm rơm rạ trực tiếp và phun chế phẩm vi sinh vật phân hủy rơm rạ cho hiệu quả, dễ thực hiệnvà tính khả thi cao nhất.
Kết quả nghiên cứu mô hình thí điểm xử lý rơm rạtại góc ruộng bằng chế phẩm sinh học làm phân bón hữu cơ cho thấy:
- Phương pháp này chỉ phù hợp với các thửa ruộng nhỏ lẻ, có địa hình không bằng phẳng,sau khi kết thức vụ mùa có trồng cây vụ đông hoặc các thửa ruộng nằm xen giữa các phương thức canh tác khác nhau
Kết quả chuyển giao chế phẩm:
Chế phẩm là sản phẩm nghiên cứu của đề tài đã được sản xuất thành công với khối lượng 216 kg. Chế phẩm vi sinh vật xử lý rơm rạ tại đồng ruộng chứa các chủng vi sinh vật phân giải nhanh các hợp chất hữu cơ gồm 1 chủng vi khuẩn Bacillus polyfermenticus và 4 chủng xạ khuẩn Streptomyces coelicolor, Streptomyces lividoclavatus, Streptomyces thermocoprophilus, Streptomyces griseosporeus; có mật độ tế bào vi sinh vật đạt trên 108 CFU/g tại tháng thứ 6 sau khi sản xuất có khả năng chịu nhiệt cao và an toàn với môi trường.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22336/2023) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











