Nghiên cứu giải pháp phát triển nuôi trồng thuỷ sản tại các hồ chứa lớn theo hướng sản xuất hàng hoá hiệu quả và bền vững
Cập nhật vào: Thứ tư - 13/08/2025 13:03
Cỡ chữ
Việt Nam sở hữu gần 3.000 hồ chứa thủy lợi và thủy điện, trải dài khắp 45/63 tỉnh thành, đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội. Những hồ này không chỉ đảm bảo cung cấp điện và nước tưới tiêu, mà còn hỗ trợ chống lũ, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy, thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản và du lịch. Từ đó, các hồ chứa đã góp phần đáng kể vào việc xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời bổ sung đáng kể vào ngân sách của các tỉnh có hồ thủy điện.

Sơ đồ lấy mẫu môi trường vùng lòng hồ Trị An
Nhận thấy tiềm năng lớn về diện tích mặt nước tại các hồ chứa để phát triển nuôi trồng thủy sản, TS. Nguyễn Thanh Tùng và các cộng sự tại Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa lớn theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững" nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật và chính sách toàn diện nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của các hồ chứa, từ đó đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản theo hướng hàng hóa, góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, và nâng cao đáng kể mức sống của người dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu đã đặt ra, đề tài tập trung chuyên sâu vào việc đánh giá môi trường các hồ chứa, nhằm xác định chính xác sản lượng nuôi trồng thủy sản tối đa mà không gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nước. Song song với đó, nghiên cứu cũng tiến hành xây dựng một bộ tiêu chí toàn diện để đánh giá khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản, kèm theo các chính sách, cơ chế quản lý và giải pháp kỹ thuật cần thiết. Phạm vi nghiên cứu được khoanh vùng tại 13 hồ chứa lớn trên khắp cả nước, có diện tích từ 5.000 ha trở lên và đại diện cho các vùng sinh thái đặc trưng khác nhau. Viện đã thiết lập sự hợp tác chặt chẽ với các đơn vị uy tín như Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3, cùng với các đơn vị sản xuất thực tế tại hồ Hòa Bình, hồ Plei-K'rong và hồ Trị An. Mục tiêu cụ thể của đề tài là xây dựng danh mục hồ tiềm năng, phương pháp xác định tiềm năng, bộ tiêu chí đánh giá khả năng phát triển thủy sản hàng hóa, áp dụng thử nghiệm bộ tiêu chí này, và cuối cùng là đề xuất chính sách, cơ chế quản lý cùng các giải pháp kỹ thuật phù hợp cho từng loại hình hồ chứa.
Sau một thời gian thực hiện, đề tài có những kết luận và đề xuất những giải pháp cụ thể sau:
Đầu tiên, đề tài đã xây dựng thành công bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa. Bộ tiêu chí này gồm 5 tiêu chí thành phần chính (tiềm năng mặt nước, môi trường, xã hội, kinh tế, kỹ thuật công nghệ) và 19 tiêu chí riêng lẻ. Nó đã được góp ý, tinh chỉnh nhiều lần, áp dụng thử nghiệm tại 3 hồ lớn (Hòa Bình, Trị An, Plei-K’rong) và kiểm định tại các cụm lồng nuôi đại diện. Điều quan trọng là bộ tiêu chí này còn được dùng để xây dựng danh mục các hồ chứa lớn (diện tích trên 5.000 ha) có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản hàng hóa hiệu quả và bền vững. Bộ tiêu chí được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đảm bảo độ tin cậy và khả năng áp dụng rộng rãi để đánh giá tiềm năng nuôi trồng thủy sản hàng hóa tại các hồ chứa lớn ở Việt Nam.
Về thông tin phục vụ đánh giá, hầu hết các dữ liệu đầu vào đều dễ thu thập và thực hiện, ngoại trừ các tiêu chí liên quan đến sức tải môi trường và chỉ số môi trường REWQC. Hai chỉ số này đòi hỏi tính toán độc lập và chi phí thu thập dữ liệu đầu vào khá tốn kém. Tuy nhiên, đây là hai tiêu chí không thể thiếu trong bộ tiêu chí, vì chúng giúp xác định ngưỡng an toàn để đảm bảo nuôi trồng thủy sản bền vững về khía cạnh môi trường. Kết quả áp dụng thử nghiệm bộ tiêu chí và kiểm định tại ba cụm lồng nuôi đại diện ở hồ thủy điện Hòa Bình, Plei-K’rong và Trị An đã đánh giá được khả năng phát triển thủy sản của từng vị trí kiểm định cũng như toàn bộ hồ. Đây là cơ sở quan trọng hỗ trợ việc ra quyết định và xây dựng chính sách phù hợp, góp phần phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững hơn.
Dựa trên bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá đã xây dựng, đề tài đã lập được danh mục 13 hồ chứa lớn của Việt Nam (diện tích trên 5.000 ha) với tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản hàng hóa hiệu quả và bền vững, cụ thể:
- Nhóm hồ chứa có tiềm năng rất cao: Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Na – Hang.
- Nhóm hồ chứa có tiềm năng cao: Lai Châu, Bản Chát, Thác Mơ, Trị An.
- Nhóm hồ chứa có tiềm năng ở mức trung bình: Plei-K’rong, Yaly, Sê San 4, Đồng Nai 3.
- Nhóm hồ có tiềm năng không cao: Hồ Dầu Tiếng.
Cuối cùng, đề tài đã đề xuất được hệ thống giải pháp toàn diện nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản tại các hồ chứa lớn theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững. Các giải pháp này bao gồm: khoa học công nghệ - môi trường; xây dựng sản xuất phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo chuỗi giá trị; cơ chế chính sách, tổ chức quản lý; và giải pháp về quản lý cộng đồng tại các hồ chứa lớn. Bên cạnh đó, đề tài cũng đề xuất xây dựng 3 mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả và bền vững tại 3 hồ cụ thể: Hòa Bình, Na – Hang và Trị An, nhằm cung cấp ví dụ thực tiễn và định hướng phát triển cho các khu vực khác.
Từ những kết quả này, đề tài đưa ra kiến nghị cần hoàn thiện bộ tiêu chí thông qua thử nghiệm rộng rãi hơn trên nhiều mô hình và vùng sinh thái khác nhau. Đồng thời, đề xuất các cơ quan quản lý địa phương tham khảo phương pháp xây dựng bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiệu quả và bền vững, nhằm làm căn cứ xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa của địa phương. Trong xu hướng phát triển và nhân rộng mô hình nuôi cá lồng bè trên hồ chứa, cần bổ sung, hoàn thiện và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ sản xuất (tín dụng, KHCN, đầu tư, bảo hiểm, giao/thuê mặt nước, khuyến nông/khuyến ngư). Cần đẩy mạnh chuyển giao cán bộ kỹ thuật về giống, phát triển sản xuất các giống mới/đặc sản/đặc hữu, áp dụng quy trình tiên tiến, công nghệ sinh học vào sản xuất, bảo quản, chế biến.
Đề tài cũng kiến nghị xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản hàng hóa hiệu quả và bền vững trên một số hồ chứa có tiềm năng lớn, từ đó xây dựng hệ thống chuỗi sản xuất và nhân rộng tại các hồ chứa trên các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam. Cuối cùng, đặc biệt kiến nghị không phát triển nuôi trồng thủy sản lồng bè tại hồ Dầu Tiếng để bảo vệ nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt cho người dân một số tỉnh lân cận và TP.HCM, đồng thời kiến nghị nghiên cứu sức tải sinh thái hồ nhằm đề xuất giải pháp quản lý nguồn lợi thủy sản gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại hồ Dầu Tiếng, phù hợp với mục tiêu sử dụng nguồn nước của hồ.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21006/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











