Nghiên cứu di cư và hòa nhập xã hội của nhóm thanh niên dân tộc thiểu số tại các khu công nghiệp
Cập nhật vào: Chủ nhật - 08/03/2026 09:04
Cỡ chữ
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số (DTTS), có mặt tại 54 tỉnh và chiếm 14,7% dân số cả nước. Đa số đồng bào DTTS sinh sống tại các vùng nông thôn, miền núi (hiện nay, đồng bào DTTS có mặt tại 54 tỉnh, 503 huyện, 5468 xã và có dân số khoảng 14,119,256 người, với 3,350,756 hộ DTTS, chiếm 14,7% dân số cả nước) [Chính phủ (2020). Hiện nay vùng đồng bào DTTS vẫn được coi là một trong những vùng nghèo có nhiều khó khăn nhất trong cả nước.
Trong những năm gần đây, do tác động của quá trình công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) đã mở rộng không gian và gia tăng số lượng các khu công nghiệp (KCN) trong cả nước, đặc biệt là các địa phương như: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, v.v. nơi tiếp giáp với các đô thị lớn và nới có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế công nghiệp. Điều đó đã làm ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế và xã tới đồng bào vùng DTTS, trong đó có nhiều ảnh hưởng liên quan tới không gian sống, văn hóa xã hội, việc làm và thu nhập.
Sự phát triển không ngừng của các KCN trong cả nước trong thời gian qua đã làm gia tăng nhu cầu lao động tại các khu vực này. Theo quy luật cung-cầu của thị trường lao động, việc gia tăng nhu cầu lao động đã thúc đẩy làn sóng di cư người lao động, đa số là những thanh niên từ khu vực nông nghiệp, nông thôn miền núi đến các khu đô thị và KCN để sinh sống và tìm việc làm.
Không ngoại lệ, những thanh niên người DTTS cũng lựa chọn lên đường di cư tìm việc làm tại các KCN trên cả nước. Trong quá trình di cư đó, đời sống của thanh niên người dân tộc thiểu số (DTTS) di cư đã chịu tác động và có nhiều biến đổi. Họ di cư từ những vùng nông thôn miền núi, kinh tế khó khăn đi đến những KCN để tìm kiếm việc làm, tìm cơ hội phát triển. Bên cạnh những tác động tích cực, quá trình di cư này cũng bộc lộ một số vấn đề hạn chế, rủi ro và thậm chí cả những mặt trái của quá trình phát triển.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài GS.TS. Đặng Văn Minh cùng nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên thực hiện “Nghiên cứu di cư và hòa nhập xã hội của nhóm thanh niên dân tộc thiểu số tại các khu công nghiệp” với mục tiêu nghiên cứu thực trạng quá trình di cư và hòa nhập xã hội của nhóm thanh niên DTTS tại các KCN ở Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp chính sách giải quyết vấn đề liên quan trong bối cảnh hiện nay.
Di cư của nhóm thanh niên DTTS tới các KCN chủ yếu là di cư lao động và diễn ra theo đúng quy luật của thị trường lao động. Nhu cầu lao động tại các KCN tăng đã thúc đẩy làn sóng di cư người lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn miền núi đến các khu đô thị và KCN để sinh sống và tìm việc làm. Trong bối cảnh đó thanh niên DTTS di cư trở thành lực lượng lao động quan trong tại các KCN.
Về đặc điểm của nhóm thanh niên DTTS di cư tại các KCN, kết quả khảo sát của đề tài cho thấy thanh niên DTTS di cư trong nhóm tuổi từ 16-30, trong đó tập trung ở độ tuổi 21-30 với tỷ lệ 78.37%. Về giới tính, tỷ lệ lao động nữ thanh niên DTTS tại các KCN cao hơn nam giới (68,04% nữ so với 31,96% nam). Tỷ lệ đã kết hôn khá cao chiếm 54.5% tổng số lao động DTTS di cư là 11 kết quả của tập quán kết hôn sớm của đồng bào DTTS. Trình độ văn hóa của nhóm thanh niên DTTS di cư khá cao, 84.39% có trình độ THCS trở lên, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ mới học hết tiều học (13,4%) và thậm chí không được đi học (2,1%). Đối với trình độ nghề nghiệp chuyên môn, đa phần lao động thanh niên DTTS làm việc tại KCN không được đào tạo nghề nghiệp (75,9%), chỉ có 12,9% được đào tạo nghề và có đên 11,2% tốt nghiệp cao đẳng và đại học nhưng chủ yếu vẫn đi làm công nhân.
Về mục tiêu di cư, phần lớn nhóm thanh niên DTTS di cư có hoàn cảnh kinh tế gia đình ở nhóm thu nhập thấp (98.1%) và vì thế di cư của nhóm thanh niên DTTS là di cư lao động với mục tiêu chính là để tìm việc làm có thu nhập cao và ổn định hơn so với làm nông nghiệp ở quê. Cũng có thể coi đây là hiện tượng sinh kế mới phổ biến tại nhiều vùng nông thôn miền núi, là hướng mong đợi thoát nghèo cho nhiều hộ gia đình DTTS có con, em đi làm tại KCN.
Về việc làm và thu nhập, thanh niên DTTS di cư tới các KCN chủ yếu làm công nhân (91,6%) với các công việc chính là làm việc tại các nhà máy với tính chất công việc giản đơn như lắp ráp điện tử, dệt may, gia công, hoặc làm các công việc nặng nhọc tại các công trường như phụ hồ xây dựng, làm đường, vệ sinh môi trường. Thu nhập chính của nhóm lao động DTTS tại các KCN là từ lương (chiếm 90% thu nhập) và một phần từ làm tăng ca, làm thêm. Mức thu nhập trung bình của lao động thanh niên DTTS là 5-10 triệu đồng/tháng, trong đó tỷ lệ có thu nhập cao (7-10 triệu đồng/tháng) tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương cao hơn so các tỉnh khác. Thu nhập của lao động thanh niên DTTS tại tỉnh Quảng Nam thấp nhất (bình quân 5,14 triệu đồng/tháng).
Việc sử dụng thu nhập làm ra của lao động DTTS tại KCN là khá tiết kiêm, ngoài chi phí cho bản thân (chiếm 67.2%); còn lại khoảng trên 30% được gửi về cho gia đình hoặc tiết kiệm cho cuộc sống.
Về hợp đồng lao động, nhóm thanh niên DTTS di cư làm việc tại các KCN chủ yếu là hợp đồng lao động có thời hạn 2-5 năm, chỉ có 6.7% số người được hỏi được kí hợp đồng làm việc trên 5 năm. Như vậy có sự khác biệt giữa kỳ 12 vọng khi di cư để tìm việc làm ổn định lâu dài với thu nhập cao và thực tế khi làm việc tại các KCN. Sẽ có nhiều vấn đề xã hội đặt ra khi mà các hợp đồng lao động không đủ dài và tính chất công việc đơn điệu mà thanh niên DTTS di cư phải đối diện trong suốt quá trình làm việc các KCN, cũng như tương lai của họ khi kết thúc hợp đồng.
Về điều kiện cuộc sống, Xuất phát từ điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, thanh niên DTTS di cư thường cố gắng giành dụm tiền để gửi về quê nhà nên các chi phí thiết yếu cho bản thân như ăn ở, chăm sóc sức khỏe, mua sắm thường là ở mức tối thiểu nhất để có tiền tiết kiệm tối đa gửi về gia đình. Về nhà ở, phần lớn thanh niên DTTS di cư thuê nhà trọ của tư nhân ở gần các KCN do giá thuê rẻ, dễ tìm và thuận tiện đối với người lao động nhập cư. Chỉ có 10,7% lao động thanh niên DTTS được ở nhà tập thể và khu ký túc xá của các công ty do khả năng đáp ứng về nhà ở cho công nhân của các KCN là rất hạn chế. Nhìn chung, thanh niên DTTS di cư có xu hướng chấp nhận điều kiện cuộc sống khó khăn để hướng tới mục tiêu mưu sinh, sinh kế của mình tại các KCN.
Về đời sống tinh thần, đa số lao động thanh niên DTTS di cư có xu hướng sử dụng thời gian nhàn rỗi để nghỉ ngơi, tái sản xuất sức lao động. Mặc dù có những khó khăn về đời sống vật chất và tinh thần, nhưng đa số thanh niên DTTS di cư vẫn có trải nghiệm cuộc sống với thái độ lạc quan, hài lòng với cuộc sống hiện có. Đa phần các quan điểm của người DTTS đều đánh giá khả năng nhận diện khá tích cực về các điều kiện môi trường sống thiết yếu (như về điện nước, không gian sống, cơ sở hạ tầng), và có phần đánh giá tích cực hơn ở các khía cạnh về môi trường sống liên quan đến an ninh, mức độ lành mạnh của nơi mà họ sinh sống. Đây cũng là khía cạnh thể hiện khả năng tự chấp nhận, thích ứng rất rõ về các điều kiện sống của họ trong môi trường cuộc sống còn khó khăn khi làm việc tại các KCN.
Về việc sử dụng dịch vụ xã hội: Quá trình di cư đến các KCN đã làm thay đổi thói quen cuộc sống ở quê. Việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội (chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản, giáo dục và các dịch vụ an sinh xã hội khác) của nhóm thanh niên DTTS tại KCN có xu hướng tăng. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy những tác động của đời sống công nghiệp đã có ảnh hưởng tới đời sống của nhóm thanh niên DTTS di cư làm việc tại KCN.
Mặc dù phần lớn thanh niên DTTS di cư chấp nhận cuộc sống hiện tại ở KCN, chủ yếu hướng đến đảm bảo mưu sinh hơn là hướng đến có được khả năng hưởng thụ, Tuy nhiên, điều đó không làm ảnh hưởng tới việc tiếp cận các dich vụ xã hội của bản thân mỗi người lao động tại các KCN.
Về mạng lưới xã hội của nhóm thanh niên DTTS tại các KCN
Nhóm thanh niên DTTS di cư thường xây dựng mạng lưới xã hội của mình theo các tiêu chí: cùng quê (thôn/ bản), cùng nhóm dân tộc, cùng chỗ làm. Mạng lưới xã hội của những người cùng quê đã tạo nên tính cố kết chặt chẽ trong cộng đồng của các nhóm thanh niên DTTS có chung một quê hương hay có mối quan hệ thân tộc - họ hàng với nhau. Tuy nhiên, việc hình thành “xóm cùng dân tộc, cùng nơi đi” cũng đặt ra một số thách thức như làm giảm sự tương tác với các nhóm xã hội khác, làm hạn chế vốn xã hội vốn đã rất nghèo nàn của thanh niên DTTS di cư. Sự hạn chế trong hòa nhập vào các mối quan hệ, các hoạt động xã hội tại nơi đến đã làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của thanh niên DTTS tại các KCN trỏ nên nghèo nàn. Do vậy, kiến tạo mạng lưới xã hội sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy hòa nhập xã hội của thanh niên DTTS tại các KCN.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21607/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











