Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và thử nghiệm công nghệ xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng tại cơ sở nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ xử lý quặng xạ hiếm
Cập nhật vào: Thứ năm - 16/07/2026 00:04
Cỡ chữ
Cơ sở 2 của Viện Công nghệ xạ hiếm (CNXH) đặt tại xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Hà Nội, với quy mô hơn 6.000 m² nhà xưởng, đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các nghiên cứu khoa học và sản xuất thử nghiệm. Tuy nhiên, qua hơn 35 năm hoạt động gắn liền với công nghệ hóa học và các hợp chất hiếm - xạ, công tác quản lý môi trường tại đây đã bộc lộ nhiều bất cập đáng quan ngại. Hiện nay, các loại chất thải rắn, lỏng và khí vẫn phát sinh liên tục từ xưởng sản xuất kẽm, chất ổn định nhiệt và chế biến quặng urani. Đặc biệt, khu vực này còn tồn đọng một lượng lớn chất thải rắn từ các dây chuyền đã ngừng hoạt động như pilot sản xuất đất hiếm từ monazite và ferro, cùng kho chứa chất thải phóng xạ tạm thời diện tích 1.000 m². Thực trạng bụi khí gây ô nhiễm, hệ thống thu gom nước mưa và nước thải chưa tách biệt, cùng hơn 9.000 m³ nước thải tồn đọng trong ao chưa được xử lý triệt để đang gây áp lực lớn lên môi trường sống của người dân khu vực xung quanh.

Bảng phân loại chất thải theo hoạt độ phóng xạ. Nguồn: FrenchclassificationforradioactivewastefromAndrawebsite.png
Trước yêu cầu cấp bách về phát triển bền vững và tuân thủ các quy định quản lý môi trường, KS. Nguyễn Huy Cường cùng các cộng sự tại Viện Công nghệ xạ hiếm đã thực hiện đề tài:“Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và thử nghiệm công nghệ xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng tại cơ sở nghiên cứu, ứng dụng và triển khai công nghệ xử lý quặng xạ hiếm”. Dự án hướng tới hai mục tiêu cốt lõi: một là đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải phát sinh từ các hoạt động nghiên cứu và sản xuất thực tế tại cơ sở Đồng Tháp; hai là nghiên cứu thực nghiệm nhằm đưa ra giải pháp công nghệ xử lý tối ưu cho nước thải có chứa các thành phần nguy hại và phóng xạ. Đây là những nghiên cứu có tính thực tiễn cao, không chỉ giúp cô lập các chất thải rắn nguy hại mà còn giải quyết triệt để lượng nước thải tồn đọng, đảm bảo an toàn cho cán bộ đang làm việc và cộng đồng dân cư lân cận.
Những kết quả của nhiệm vụ được kỳ vọng sẽ trở thành cơ sở khoa học quan trọng để lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại cơ sở Phùng, phù hợp với định hướng nhiệm vụ mới của Viện Công nghệ xạ hiếm cũng như Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Việc thực hiện đề tài này không chỉ đáp ứng mong muốn chính đáng của người dân về một môi trường sống trong lành mà còn là bước đi tất yếu để hiện đại hóa hạ tầng triển khai công nghệ xử lý quặng xạ hiếm theo hướng thân thiện với môi trường, góp phần giảm thiểu tối đa các rủi ro từ chất thải đặc thù trong ngành năng lượng nguyên tử.
Kết quả nghiên cứu khảo sát trong giai đoạn 2017-2018 tại cơ sở Phùng đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng về thực trạng môi trường, trong đó ghi nhận sự tích lũy kim loại nặng như Zn và Cd trong đất ở hàm lượng khá cao do hoạt động sản xuất lâu năm, đồng thời nước thải trong ao Phùng cũng chứa các chất này vượt nhiều lần ngưỡng cho phép theo QCVN 40:2011/BTNMT. Về an toàn phóng xạ, mặc dù phông phóng xạ tự nhiên và nồng độ các nhân phóng xạ trong mẫu đất, nước ở mức thấp và chưa có dấu hiệu ô nhiễm diện rộng, nhưng tổng hoạt độ phóng xạ tại các đầu dẫn vào ao Phùng vẫn vượt ngưỡng quy định, đòi hỏi phải xử lý triệt để trước khi xả ra môi trường. Ngược lại, môi trường không khí tại thời điểm khảo sát được đánh giá ở mức tốt và công tác lưu giữ bã thải rắn trong kho phóng xạ vẫn đảm bảo an toàn, không có biến động bất thường trong số liệu đo đạc nhiều năm.
Dựa trên các kết quả thực nghiệm đó, đề tài đã đưa ra các giải pháp kỹ thuật cụ thể, trong đó ưu tiên lựa chọn phương án kết hợp giữa xử lý tại trạm tập trung và xử lý trực tiếp tại ao để giải quyết lượng nước thải tồn đọng, giúp loại bỏ triệt để Cd và Zn trong thời gian ngắn và đảm bảo vận hành ổn định lâu dài. Đối với việc cô lập chất thải rắn nguy hại và phóng xạ, nghiên cứu đã thử nghiệm thành công việc sử dụng Bentonit Bình Thuận làm vật liệu ngăn cách với lớp lót dày khoảng 50 cm. Giải pháp này không chỉ đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn thiết kế bãi chôn lấp chất thải nguy hại theo TCXDVN 320:2004 mà còn giúp cô lập an toàn các thành phần độc hại, ngăn ngừa tác động xấu đến môi trường xung quanh.
Đề tài đã hoàn thành việc đánh giá hiện trạng môi trường tại Cơ sở 2 Viện CNXH, xác định rõ các điểm nóng ô nhiễm kim loại nặng trong đất và nước. Nghiên cứu đã xây dựng thành công quy chế quan trắc, giám sát môi trường và quy chế quản lý chất thải rắn, lỏng đồng bộ. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo yêu cầu nhiệm vụ mới của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Để duy trì và phát triển kết quả nghiên cứu một cách bền vững, nhóm thực hiện đề tài kiến nghị Viện CNXH sớm phê duyệt và ban hành Bản đề xuất quy chế quan trắc, giám sát môi trường cũng như quy chế quản lý chất thải rắn, lỏng tại cơ sở Phùng đi vào hoạt động chính thức. Đồng thời, cần nhanh chóng đưa vào thực thi Phương án hệ thống bảo vệ môi trường đã được đề tài lựa chọn và xây dựng, bởi đây là giải pháp căn cơ và cấp thiết để đảm bảo khu vực cơ sở 2 của Viện phát triển bền vững, giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường và đáp ứng mong muốn về một không gian sống an toàn cho cộng đồng dân cư xung quanh.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22020/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











