Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh Dịch tả lợn châu phi (ASF) tại Việt Nam
Cập nhật vào: Chủ nhật - 23/02/2025 12:04
Cỡ chữ
Bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút chỉ gây bệnh ở lợn nuôi và lợn rừng; không gây bệnh cho các loài động vật khác, lợn bệnh có khả năng chết lên đến 100% số lợn nhiễm bệnh và có tác động lớn đến kinh tế đối với các nước phát triển và đang phát triển. Bệnh DTLCP có khă năng lây lan nhanh, gây thiệt hại lớn; không lây nhiễm và gây bệnh ở người; vi rút có sức đề kháng cao, tồn tại lâu ở ngoài môi trường và trong các sản phẩm của lợn; bệnh lây lan trực tiếp từ lợn bệnh sang lợn chưa mắc bệnh, sản phẩm lợn mang mầm bệnh, hoặc gián tiếp qua các loài vật chủ trung gian mang mầm bệnh (ve, mòng, côn trùng, gặm nhấm, chim di cư,..), các phương tiện vận chuyển, thức ăn chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi và cả yếu tố con người. Hiện nay trên thế giới chưa có vắc xin phòng bệnh, và cũng chưa có thuốc điều trị bệnh. Tác nhân gây bệnh là do vi rút DTLCP, là một loại DNA vi rút sợi lớn, thuộc thành viên gia đình họ Asfarviridae. Vi rút DTLCP lần đầu tiên được ghi nhận là đã xảy ra vào năm 1907 và bệnh DTLCP được mô tả lần đầu tiên vào năm 1921 tại Kenya và sau đó bệnh lan rộng ra các nước Châu Âu, Nam Mỹ và Caribbean vào giữa thế kỷ trước.

Trải qua gần một thế kỷ, bệnh DTLCP xuất hiện trên nhiều quốc gia đã gây ra những thiệt hại kinh tế nặng nề ở mỗi quốc gia có dịch bệnh bùng phát. Năm 2007, bệnh xuất hiện ở Georgia, sau đó lan rộng ra các nước đông Âu như Nga, Belarus, Ukraine, Estonia, Litva, Latvia, Romania, Moldova, Cộng hòa Séc và Ba Lan. Gần đây, bệnh bùng nổ tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Tại Châu Á, bệnh DTLCP lần đầu tiên được phát hiện tại Trung Quốc vào đầu tháng 8/2018 và sau đó là tại Mông cổ vào đầu tháng 1/2019, Campuchia tháng 4/2019, Hàn Quốc vào 5/2019, Việt Nam tháng 2/2019, Lào tháng 6/2019, Philippines tháng 7/2019, Myanmar tháng 8/2019, Đông Timor tháng 9/2019, và gần đây nhất là Ấn Độ tháng 5/2020.
Tính đến nay, Việt Nam đã có hơn 8.500 ổ dịch với hơn 6 triệu con lợn đã bị tiêu hủy. Tác nhân gây bệnh DTLCP là virus DNA mạch kép, có vỏ bọc thuộc họ Asfaviridae, giống Asfivirus. Bộ gen của virus dài khoảng 170-193kbp, có khoảng 151-167 khung đọc mở mã hóa ra hơn 50 protein khác nhau. Hiện nay chưa có vacxin và phác đồ điều trị cho các đàn lợn bị nhiễm bệnh DTLCP, vì vậy một trong các biện pháp hiệu quả nhất để ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh là phát hiện sớm và tiêu hủy toàn bộ đàn lợn bị nhiễm bệnh. Để có thông tin về các genotype của các chủng vi rút DTLCP đang lưu hành tại Việt Nam và cung cấp nhứng thông tin hữu ích trong việc phát triển vắc xin phòng bệnh DTLCP tại Việt Nam, góp phần vào công tác phòng chống và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn, TS. Đặng Vũ Hoàng, cùng các cộng sự tại Viện thú y, đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và đề xuất giải pháp phòng, chống bệnh Dịch tả lợn châu phi (ASF) tại Việt Nam”.
Từ những kết quả thu được, đề tài có một số kết luận sau:
1. 100% các chủng vi rút DTLCP lưu hành tại Việt Nam thu thập năm 2020 thuộc đề tài là kiểu gen II (Genotype II) và kiểu nhóm huyết thanh học 8 (Serotype 8). Ngoài ra, có ít nhất 2 biến thể IGR I và IGR II đang lưu hành tại Việt Nam
2. Đã phân lập và giám định chủng vi rút DTLCP phân lập tại Việt Nam trên tế bào PAM, trong đó phân lập thành công 68 chủng vi rút DTLCP đại diện cho 07 vùng sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam trên môi trường tế bào PAM. Các chủng vi rút đều được xác định lại là dương tính bằng phương pháp Realtime PCR, PCR truyền thống kết hợp giải trình tự gene và phản ứng hấp phụ hồng cầu (HAD) theo tiêu chuẩn OIE và được xếp vào nhóm độc lực cao và độc lực vừa. Chúng tôi “chưa” phát hiện được vi rút DTLCP độc lực thấp/nhược độc trong khuôn khổ đề tài. Nồng độ vi rút DTLPC sau 3 đời cấy chuyển dao động từ 5 – 7 log10 HAD50/ml
3. Đã xác định được quá trình sinh bệnh, sự nhân lên của vi rút DTLCP trên cơ thể lợn mắc bệnh. Cụ thể:
- Lợn gây nhiễm bởi chủng vi rút DTLCP chủng phân lập tại thực địa của Việt Nam gây bệnh thể cấp tính có các biểu hiện bệnh tích đại thể và vi thể là đặc trưng của bệnh DTLCP.
- Ở ngày gây nhiễm thứ 2, vi rút khu trú tại tổ chức hạch amidan và hạch dưới hàm. Các cơ quan khác không quan sát thấy sự có mặt của virus.
- Từ ngày gây nhiễm thứ 4, các tế bào xuất hiện tín hiệu kháng nguyên DTLCP quan sát thấy ở nhiều cơ quan tổ chức như lách, thận, phổi...với các cường độ nhiễm khác nhau. chủng vi rút DTLCP phân lập tại Việt Nam phát hiện sớm và tập trung nhiều nhất ở hệ thống hạch lympho, lách, tiếp đến là phổi, thận, gan và phân bố ít hơn ở tim, ruột.
- Sau ngày thứ 2 gây nhiễm, bắt đầu có sự xuất hiện vi rút trong máu ở tất cả lợn thí nghiệm và vi rút nhân lên mạnh trong máu từ ngày 3-6 sau gây nhiễm.
- Theo dõi sự bài thải chủng vi rút DTLCP qua dịch tiết vào ngày thứ 3 (dịch nước bọt) và thứ 5 (dịch swab phân) của lợn được gây nhiễm. Thời gian đào thải liên tục trong suốt quá trình bệnh
4. Đã xác định được mức độ mẫn cảm của vi rút DTLCP phân lập tại Việt Nam đối với một hoá chất sát trùng, tiêu độc thông dụng bằng 2 phương pháp realtime PCR và HAD. Cụ thể:
- Các hoá chất theo khuyến cáo của OIE như Iodine 3%, NaOH 8/1000, chloroform 20%, formaldehyde 3/1000 trong vòng 30 phút đều có khả năng tiêu diệt và ức chế sự nhân lên của vi rút DTLCP chủng phân lập tại thực địa của Việt Nam
- Chất Sal CURB, gồm Sal Curb RM E liquyd, F2 dry và K2 liquyd, có khả năng ức chế và diệt vi rút DTLCP chủng phân lập tại thực địa của Việt Nam sau 1, 3 và 7 ngày xử lý.
- Chất MCFA dạng đơn (C8) và dạng phức hợp (C6-C8-C10 và C8-C10-C12) có khả năng ức chế sự nhân lên và lây nhiễm vi rút DTLCP, trong đó dạng MCFA phức hợp có khả năng ức chế vi rút DTLCP mạnh hơn MCFA dạng đơn.
5. Đã giải trình tự toàn bộ gen của tối thiểu 7 chủng vi rút DTLCP phân lập từ 7 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau tại Việt Nam. Cụ thể:
- Đã công bố 7 trình tự toàn bộ gen trên ngân hàng gen thế giới (Genbank) với mã truy cập Quốc tế từ OL322096 đến OL322102. Các kết quả cho thấy có độ tương đồng cao về trình tự toàn bộ nucleotide của vi rút DTLCP tại 07 vùng sinh thái của Việt Nam rất cao, dao động trong khoảng 99.79-99.99%. Đồng thời, so sánh toàn bộ trình tự nucleotide vi rút DTLCP từ 07 Vùng sinh thái Nông nghiệp tại Việt Nam với các chủng tham chiếu của Trung Quốc như China/01/2019 (mã số genbank MN172368) và HLJ/2018 (mã genbank MK333180) thuộc genotype II cho thấy độ tương đồng cao dao động từ 99.86-99.98%.
- Dựa trên kết quả phân tích toàn bộ gen của vi rút DTLCP, đã phát triển thành công hai phương pháp mới dùng trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử của vi rút DTLCP, gồm: (i) Phương pháp nhận diện nhanh nhóm huyết thanh của vi rút DTL giựa trên trình tự đoạn 90 nucleotide nằm trên gen EP402R mã hóa cho protein CD2v của vi rút DTLCP; (ii) Phương pháp phân nhóm vi rút DTLCP dựa trên trình tự vùng IGR nằm giữa 2 gen A179L và A137R. Đây được xem là phương pháp mới và quan trọng để phân biệt các chủng vi rút DTLCP đang lưu hành tại Việt Nam với các chủng vi rút DTLCP đã được công bố trên thế giới.
6. Đã xây dựng thành công quy trình phát hiện vi rút DTLCP trong một số yếu tố trung gian truyền bệnh. Cụ thể: Quy trình cải tiến phương pháp realtime PCR theo khuyến cáo của OIE phù hợp với điều kiện thực địa Việt Nam để phát hiện vi rút DTLCP có hoặc không có đột biến điểm tại vùng gen gắn mồi. Quy trình đã được hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở nghiệm thu và ban hành theo quyết định số 537/VTY-KHCN ngày 18/11/2021.
7. Đã nhận diện được các yếu tố nguy cơ làm lây truyền bệnh DTLCP (đường truyền lây và nguồn truyền lây). Cụ thể: Đã thiết kế bộ câu hỏi điều tra dịch tễ, thực hiện điều tra tại 240 hộ chăn nuôi thuộc 07 vùng sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam và phân tích, nhận diện được 17 yếu tố nguy cơ làm lây lan dịch bệnh DTLCP tại 07 vùng sinh thái nông nghiệp tại Việt Nam.
8. Dựa trên các kết quả của đề tài, chúng tôi đã đề xuất được các giải pháp phòng chống bệnh DTLCP tại Việt Nam. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của đề tài đã được công bố trên 08 bài báo Quốc tế thuộc danh mục ISI và 01 bài báo thuộc tạp chí chuyên ngành trong nước, vượt yêu cầu 7 bài báo quốc tế. Đã tham gia hướng dẫn 01 học viên Thạc sỹ chuyên ngành Chăn nuôi-Thú y.
Từ những kết quả đạt được, đề tài kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng hệ thống xác định kiểu gen, kiểu nhóm huyết thanh học cũng như các biện thể của vi rút DTLCP đã được thiết lập trong nghiên cứu này để giám sát chủ động, phát hiện sớm các genotype và các biến thể mới đang lưu hành tại Việt Nam phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh DTLCP. Đồng thời, tiến hành phân tích mô hình tối ưu để xác định được các yếu tố rủi ro nào là quan trọng nhất.
Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài (Mã số 20505/2022) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
P.T.T (NASATI)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











