Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất nội dung quy định về quản lý hoạt động lấn biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam
Cập nhật vào: Thứ ba - 03/03/2026 08:07
Cỡ chữ
Biển cung cấp cho nhân loại thực phẩm phong phú, dầu khí, tài nguyên sản xuất và không gian phát triển rộng lớn, trong sự cạn kiệt ngày càng tăng của tài nguyên đất liền ngày nay, đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế biển, đã trở thành sự đồng thuận chung của tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các cường quốc biển đều lựa chọn chiến lược quốc gia tiến ra biển, làm giàu từ biển, sử dụng, khai thác hợp lý tài nguyên, môi trường biển.
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động lấn biển, kiểm soát chặt chẽ các dự án có hoạt động lấn biển theo yêu cầu tại Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; cụ thể các vấn đề có tính đặc thù đối với hoạt động lấn biển, phù hợp với các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, quản lý, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan; bảo đảm không chồng chéo để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với hoạt động lấn biển; đảm bảo hoạt động lấn biển được quản lý, thực hiện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, bảo vệ môi trường, cảnh quan, hệ sinh thái biển, hải đảo, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững; phù hợp, cụ thể hóa thực hiện các mục tiêu đã được xác định trong Nghị quyết số 36-NQ/TW và Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Trần Thị Liên cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu biển và hải đảo thực hiện “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất nội dung quy định về quản lý hoạt động lấn biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam” với mục tiêu: Đánh giá được thực trạng hoạt động lấn biển và tình hình quản lý hoạt động lấn biển tại Việt Nam; Đúc rút được bài học kinh nghiệm quản lý hoạt động lấn biển tại một số quốc gia trên thế giới và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động lấn biển; Có được cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động lấn biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học tại Việt Nam.

Các quy định về quản lý hoạt động lấn biển góp phần giúp các nước đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời vẫn cải thiện được quyền tiếp cận của người dân với biển, bảo vệ các hệ sinh thái nhạy cảm của vùng bờ, bảo đảm chức năng tự nhiên của các quá trình động lực vùng bờ, bảo vệ tính mạng, tài sản và các hoạt động kinh tế trước các rủi ro phát sinh do các quá trình động lực vùng bờ gây ra (bao gồm các các rủi ro do mực nước biển dâng). Giải quyết các vấn đề này cần phải xuất phát từ thực tiễn của mỗi quốc gia và mỗi quốc gia có quy định khác nhau. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Chính phủ cần quản lý tổng hợp và thống nhất hoạt động lấn biển, giao một cơ quan đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Đồng thời giúp quản lý hoạt động lấn biển một cách hài hòa giữa các ngành, các cấp đồng thời được xem xét một cách tổng thể để bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo dựa trên tiếp cận hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững.
Thứ hai, các khu vực có thể lấn biển cần được cụ thể từ khâu quy hoạch cấp quốc gia, cấp ngành, địa phương có liên quan. Vị trí lấn biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành, thực hiện thành công các dự án có hoạt động lấn biển ở nhiều địa phương thông qua các dự án lấn biển, xây dựng các khu đô thị lấn biển. Việc điều tra, đánh giá, xác định vị trí lấn biển cần được tiến hành nghiêm túc, khoa học, dựa trên mục đích sử dụng quỹ đất, công trình sau khi lấn biển, phân tích, đánh giá được lợi ích của phương án lựa chọn; đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan; phát triển bền vững kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thích ứng biến đổi khí hậu. Đề xuất ban hành các hướng dẫn kỹ thuật chi tiết cho việc xác định vị trí lấn biển, đánh giá tác động môi trường,…
Thứ ba, tăng cường công tác giám sát hoạt động lấn biển. Kết hợp chế độ thông tin, báo cáo, thanh kiểm tra, kiểm soát hoạt động lấn biển. Áp dụng công nghệ hiện đại vào giám sát hoạt động lấn biển đạt hiệu quả cao như sử dụng các phương tiện giám sát viễn thám ảnh vệ tinh, giám sát viễn thám máy bay không người lái, giám sát hiện trường và giám sát từ xa. Đối với giám sát truyền thống bằng hệ thống thông tin, dữ liệu báo định kỳ và đột suất, cần xây dựng chi tiết các thông tin cần cung cấp đối với các giám sát về biển (trước khi lấn biển) và giám sát/báo cáo về đất đai (đất hình thành sau lấn biển), công trình,... Bộ dữ liệu báo cáo là tiền đề cho những phân tích hiện trạng, đề suất giải pháp và kiểm soát các hoạt động, định hướng cho quy hoạch tổng thể quốc gia, ngành và địa phương.
Thực tế, hoạt động lấn biển mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là tại các khu vực ven biển thiếu tài nguyên đất đai có nhu cầu phát triển quỹ đất; là một giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, nước biển dâng… Do vậy, việc ngăn chặn hoàn toàn việc lấn biển là khó thực hiện và không hoàn toàn là một giải pháp đúng đắn trước nhu cầu phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nếu không quản lý chặt chẽ hoạt động lấn biển, để hoạt động này phát triển ồ ạt, không có quy hoạch, định hướng, chưa đánh giá được hết những đánh đổi tài nguyên, môi trường, giá trị dịch vụ hệ sinh thái có thể dẫn đến những hậu quả xấu, không mang lại mục tiêu phát triển bền vững. Để quản lý chặt chẽ hoạt động này, nhà nước cần từng bước thực hiện nghiêm công tác quản lý phê duyệt, quy định và hướng dẫn chi tiết đối với các dự án lấn biển phát triển theo hướng có trật tự, quy hoạch tổng thể cấp quốc gia và quy hoạch chi tiết cấp ngành, địa phương, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Chính quyền các cấp cần tăng cường thực hiện quy hoạch sử dụng biển theo quy định của pháp luật, sắp xếp chiến lược tổng thể về thời gian và không gian cho việc khai thác, sử dụng, cải tạo và bảo vệ tài nguyên biển, phối hợp tốt nhu cầu sử dụng biển của các loại biển khác nhau, điều chỉnh hợp lý cơ cấu và bố trí sử dụng biển, nâng cao tỷ lệ sử dụng và sản lượng biển, thúc đẩy việc sử dụng thâm canh và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực biển. Cần thực hiện song song các mục tiêu quản lý hoạt động lấn biển tổng thể chặt chẽ qua các giải pháp thực hiện song song, gồm có:
(1) Tăng cường thực hiện các quy định và chính sách hiện hành, đặc biệt là công tác quy hoạch và đánh giá tác động môi trường nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động lấn biển
(2) Sớm thiết lập cơ chế bồi thường tài nguyên sinh thái biển đối với các hoạt động lấn biển
(3) Tăng cường quản lý, thanh kiểm tra và quản lý chặt chẽ, hạn chế tác động xấu tới môi trường, hệ sinh thái của các khu vực lấn biển
(4) Tăng cường phục hồi hệ sinh thái bị tổn thương, tác động bởi các khu vực lấn biển trên cơ sở tính toán, xác định mức độ tổn thương, thiệt hại của các hệ sinh thái
(5) Xây dựng, hoàn thiện các quy định về hoạt động lấn biển với mục tiêu cho phát triển bền vững: hài hòa giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường nhất quán
(6) Chuẩn hóa các tiêu chuẩn quản lý tổng hợp biển, hải đảo
Tiêu chuẩn hóa quản lý tổng hợp biển, hải đảo trong quản lý hoạt động lấn biển cần tập trung vào các khía cạnh về quản lý sử dụng biển, hải đảo; tiêu chuẩn hóa trong quy trình quản lý phê duyệt, ra quyết định trong quản lý tổng hợp biển, hải đảo như: giao khu vực biển, cấp phép nhận chìm, chuyển nhượng, thế chấp,… ; tiêu chuẩn hóa kiểm soát ô nhiễm ở các vùng biển trọng điểm, đánh giá sức chịu tải môi trường và giá trị dịch vụ hệ sinh thái (đặc biệt là tại các vịnh trọng điểm, khu vực nuôi trồng thủy sản, cửa sông ra biển và các khu vực nhạy cảm với sinh thái); chuẩn hóa giám sát môi trường biển, đánh giá tác động môi trường biển…
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21619/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











