Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để ứng dụng Mã định danh tài liệu số (Digital Object Identifier - DOI) đối với tài nguyên số của Việt Nam
Cập nhật vào: Thứ tư - 01/07/2026 13:03
Cỡ chữ
Trong kỷ nguyên số hoá và bùng nổ của thông tin hiện nay, việc định danh nguồn tài nguyên đã được số hoá nói chung và đối tượng tài liệu khoa học công nghệ nói riêng để đảm bảo nó là duy nhất, được chuẩn hoá có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình trao đổi thông tin giữa các hệ thống máy tính của các cơ quan tổ chức và đối tượng khác nhau như người sử dụng, người cung cấp hoặc người phân phối và các nhà xuất bản và sản xuất.
Việc giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những tổ chức khác nhau vượt ra ngoài biên giới quốc gia và do đó cũng đòi hỏi phải có một mã định danh quốc tế duy nhất mà mã này cần đảm bảo cho việc tương tác, trao đổi thông tin một cách thuận lợi, cũng như áp dụng được cho toàn bộ các đối tượng tài nguyên số.
Đến thời điểm hiện tại, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO đã xây dựng và ban hành khá nhiều tiêu chuẩn về định danh. Có thể liệt kê ra một vài tiêu chuẩn ISO như mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách ISBN (ISO 2108), mã số tiêu chuẩn cho xuất bản phẩm nhiều kỳ ISSN (ISO 3297), định danh số cho đối tượng (ISO 26324), đối với các đối tượng như thiết bị có các mã GTIN của tổ chức mã số mã vạch quốc tế GS1, v.v. Ở Việt Nam trong lĩnh vực thông tin và truyền thông nói chung và Thông tin tư liệu, thư viện nói riêng, đã ban hành một số tiêu chuẩn về mã số, định danh cho sản phẩm nội dung số như TCVN 6380:2007 - Tiêu Chuẩn Việt Nam - Thông tin tư liệu, thư viện. Mã số tiêu chuẩn Quốc tế cho sách (ban hành ngày 31-12-2007 theo Quyết định số 3269/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ) - TCVN 6381:2007 - Thông tin tư liệu, thư viện. Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ban hành ngày 31-12-2007 theo Quyết định số 3247/QĐBKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ).
Các nhà xuất bản cung cấp DOI đến một thư mục được quản lý tập trung và sử dụng địa chỉ thư mục này cộng với DOI thay cho địa chỉ mạng thông thường. Hệ thống DOI được hình thành bởi Hiệp hội các Nhà xuất bản Mỹ với sự cộng tác của Hãng Thúc đẩy Nghiên cứu Quốc gia của Hoa Kỳ(CNRI), và hiện nay được quản lý bởi Tổ chức DOI Quốc tế (http://www.doi.org). Về mặt cơ bản, hệ thống DOI là một quy trình đổi hướng các trang mạng nhờ sự quản lý tập trung.
Tuy nhiên định danh DOI cho đối tượng không thay thế cho các sơ đồ định danh khác như ISAN, ISBN, ISRC, ISSN, ISTC, ISNI và những định danh đã được chấp nhận khác. Khi được sử dụng cùng chúng, nó có thể tăng cường chức năng định danh được cung cấp bởi các hệ thống đó với những chức năng bổ sung của hệ thống DOI.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Ths. Dương Thị Phương cùng nhóm nghiên cứu tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia thực hiện “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để ứng dụng Mã định danh tài liệu số (Digital Object Identifier - DOI) đối với tài nguyên số của Việt Nam” với mục tiêu: Đề xuất mô hình quản lý và khai thác DOI tại Việt Nam.

Sau thời giang nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
Trong hoạt động kinh tế xã hội, định danh có vai trò rất quan trọng. Hiện nay có rất nhiều hệ thống định danh khác nhau được sử dụng tùy thuộc vào đối 17 tượng cần quản lý. Để thực hiện công tác định danh người ta sử dụng mã định danh (identifier) hoặc các mã khác (codes). Một vấn đề quan trọng trong lựa chọn hệ thống định danh là đảm bảo tính duy nhất (uniqueness) và tính bền vững/ổn định (persistence).
Trong hoạt động thông tin - thư viện, nhiều hệ thống định danh cũng đã được xây dựng và ứng dụng rộng rãi như : Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN), Mã số tiêu chuẩn Quốc tế cho sách (ISBN), Mã số định danh ấn phẩm in và điện tử (SICI), Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho tư liệu ghi âm (ISRC), Chỉ số bản nhạc tiêu chuẩn quốc tế (ISMN), Mã số chuẩn quốc tế về tài liệu nghe nhìn (ISAN), v.v. Những hệ thống mã định danh này vẫn đang được sử dụng. Tuy nhiên trong môi trường kỹ thuật số với sự xuất hiện của các tài nguyên thông tin số, việc ứng dụng những mã định danh mới phù hợp với điêu kiện số là cần thiết.
Định danh đối tượng số (DOI) là một loại định danh bền vững sử dụng để định danh những đối tượng một cách duy nhất. Định danh DOI là một loại định danh số cho các đối tượng và được ứng dụng rộng rãi trong định danh các tài nguyên học thuật như các tạp chí khoa học, các bài báo khoa học, các kỷ yếu hội nghị hội thảo khoa học, các bộ sưu tập dữ liệu nghiên cứu.
Định danh DOI được quản lý trong Hệ thống DOI. Hệ thống DOI (DOI system) là tập hợp của cơ chế quản lý phân cấp quốc tế (cơ sở hạ tầng xã hội) và hệ thống kỹ thuật để đăng ký, cấp và quản lý các định danh DOI dưới dạng mà máy tính có thể đọc được thông qua việc cấp gán, phân giải, mô tả tài liệu, quản lý.
Về mặt tổ chức, Hệ thống DOI quốc tế bao gồm Liên đoàn quốc tế DOI (IDF - International DOI Federation), hệ thống các Cơ quan đăng ký (RA - Registration Agency) và các chủ thể đăng ký sử dụng mã định danh DOI.
Về mặt kỹ thuật, Hệ thống DOI bao gồm hai lớp dịch vụ: Hệ thống Đăng ký Handle Toàn cầu (Global Handle Registry) và Hệ thống máy chủ phân tán quản lý mã định danh cục bộ. Hệ thống Đăng ký Handle Toàn cầu là hệ thống máy chủ gốc, quản lý các tiền tố và đảm bảo sự liên kết đến hệ thống cục bộ có các tiền tố được cấp đó; trong khi Hệ thống cục bộ lưu giữ các biểu ghi handle dưới một tiền tố/một số tiền tố cụ thể.
Để có thể áp dụng DOI, người đăng ký DOI phải tham gia hệ thống DOI toàn cầu thông qua việc đăng ký với một Cơ quan đăng ký (RA) được IDF ủy quyền. Người đăng ký/Chủ thể đăng ký DOI phải đảm bảo về tính ổn định của định danh và sự phù hợp giữa mã định danh DOI mà họ đăng ký với tài nguyên liên quan mà họ quản lý.
quan mà họ quản lý. Nếu Việt Nam muốn đăng ký áp dụng Mã định danh DOI, chúng ta có thể có 2 phương thức: (1) Việt Nam xây dựng một Cơ quan đăng ký (RA) và đăng ký tham gia với IDF để được ủy quyền như một Cơ quan đăng ký của IDF, từ đó quản lý việ đăng ký mã định danh DOI cho các tổ chức ở Việt Nam; (2) Các tổ chức tự mình trực tiếp đăng ký mã DOI với một Cơ quan đăng ký quốc tế (như 18 Crossref, DataCite, v.v.).
Cần thiết nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế, một số nước trong khu vực để đưa ra được cách tiếp cận hợp lý. Cần nghiên cứu chi tiết hơn yêu cầu kỹ thuật và công nghệ cần thiết cho một tổ chức đăng ký cấp mã định DOI quốc tế hoặc quốc gia (yêu cầu về hạ tầng công nghệ thông tin, yêu cầu về hệ thống phần mềm; yêu cầu về nhân sự chuyên nghiệp, v.v.).
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 22050/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











