Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học ứng dụng trong bảo vệ môi trường
Cập nhật vào: Thứ ba - 23/06/2026 13:06
Cỡ chữ
Ngày nay, khi thế giới đang phải đối mặt với muôn vàn vấn đề ô nhiễm môi trường, xử lý sinh học nổi lên như một giải pháp ưu việt thông qua cơ chế sử dụng vi sinh vật (VSV) và enzyme để phân hủy, khử độc các chất thải hóa học, kim loại nặng, hydrocacbon, dầu hay thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, bức tranh ứng dụng sinh học không chỉ có màu hồng. Bên cạnh những chế phẩm hữu ích (như xử lý nitơ, sulphit trong nuôi trồng thủy sản hay phân giải xenlulô), môi trường tự nhiên và nhân tạo đang phải hứng chịu sự bùng phát của các VSV gây hại do hệ lụy từ quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và sự lạm dụng phân bón, hóa chất.
Việc xả thải nông nghiệp (rơm rạ, phân bón) và sự tích tụ lớp bùn đáy trong ao nuôi thủy sản sinh ra các khí độc (amoniac, hydrogen sulfur, methane...) đã tạo môi trường lý tưởng cho các mầm bệnh nguy hiểm sinh sôi. Thực tế đã ghi nhận sự xuất hiện của các loài Vibrio parahaemolyticus gây hội chứng hoại tử gan tụy cấp ở tôm, Aeromonas hydrophila gây bệnh trên cá tra, cùng hàng loạt các chi nấm, nguyên sinh động vật như Pseudomonas, Proteus, Staphylococcus... Đáng báo động hơn, ngoài các bệnh truyền thống như tả, lỵ, thương hàn, sự xuất hiện của các VSV ngoại lai hay sự tiến hóa của mầm bệnh (cúm gia cầm, HIV, Ebola, lở mồm long móng) lây lan sang người với độc lực mạnh đang đặt ra thách thức lớn. Trong khi đó, trên thị trường hiện lưu hành hơn 800 chế phẩm sinh học xử lý môi trường (chưa kể hơn 1.000 loại từng được Bộ Thủy sản cũ cho phép nhập khẩu). Sự phát triển ồ ạt này kéo theo vô số chế phẩm trôi nổi, làm nhái thương hiệu, không những vô tác dụng mà còn chứa mầm bệnh gây hại cho sinh thái. Dù Chính phủ và các Bộ ngành (như Bộ Tài nguyên và Môi trường với Thông tư 19/2010/TT-BTNMT) đã có quy định quản lý, nhưng các văn bản vẫn nằm rải rác, chồng chéo giữa các lĩnh vực y tế, nông nghiệp và môi trường; các phương pháp đánh giá an toàn vẫn còn cổ điển, thiếu cập nhật và chưa đánh giá được toàn diện mối tương tác tiềm ẩn giữa tác nhân sinh học với hệ sinh thái.

Trước những khoảng trống pháp lý và rủi ro hiện hữu nhằm tránh gây ra ô nhiễm thứ cấp, ThS. Phạm Thị Kiều Oanh cùng các cộng sự tại Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học ứng dụng trong bảo vệ môi trường”.
Đi sâu vào thực trạng, nhóm nghiên cứu nhận thấy dù các phòng thí nghiệm sinh học trên cả nước hoạt động rất nhiều, nhưng những cơ sở đạt chuẩn quốc tế, đủ nguồn lực để đánh giá an toàn sinh học lại chỉ tập trung ở các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia hoặc các trường đại học lớn. Từ cơ sở thực tiễn đó, nhóm đã xuất sắc xây dựng được Dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá tính an toàn sinh học chia làm 3 cấp độ rõ rệt: Nhóm 1 (Độc cấp tính), Nhóm 2 (Độc sinh sản) và Nhóm 3 (Độc hệ sinh thái). Các tiêu chí này được lượng hóa cực kỳ chi tiết, dựa trên các chỉ tiêu khoa học chuẩn mực như LD50, EC50, LOEC, NOEC và thang mức độ độc hại 5 bậc của Tổ chức Thế giới (GHS).
Nhằm khẳng định tính khả thi và độ tin cậy của bộ tiêu chí trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Việt Nam, nhóm đã trực tiếp đánh giá thử nghiệm 06 chế phẩm có thành phần phức tạp (gồm VSV, enzyme, hóa chất). Kết quả vô cùng khả quan: đối với Nhóm 1, đã xác định thành công độc tính cấp theo đường hô hấp và kích ứng da trên chuột, thỏ; Nhóm 2 đánh giá được độc sinh sản; và đặc biệt ở Nhóm 3, độc tính hệ sinh thái đã được thử nghiệm chuẩn xác trên phôi cá ngựa vằn (Daniorerio) và rận nước (Daphnia sp.) theo đúng hướng dẫn khắt khe của tổ chức OECD và QCVN.
Từ những thành công thực chứng mang lại kết quả tương đồng và tin cậy cao, nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa lại và đưa ra những kiến nghị mang tính chiến lược để siết chặt công tác quản lý trong thời gian tới. Cụ thể, các cơ quan chức năng cần khẩn trương ban hành các quy định chuẩn hóa về điều kiện cơ sở vật chất đối với các phòng thí nghiệm để đáp ứng được các yêu cầu đánh giá tính an toàn sinh học phức tạp. Quan trọng hơn, cần sớm ban hành các hướng dẫn quản lý chính thức, trong đó áp dụng trực tiếp các tiêu chí và phương pháp đánh giá (3 cấp độ độc tính) mà đề tài đã xây dựng vào các văn bản quy định pháp luật. Cuối cùng, không chỉ giới hạn ở các chế phẩm sinh học, nhóm tác giả đề nghị mạnh dạn mở rộng việc áp dụng các tiêu chí và phương pháp nghiên cứu này vào công tác đánh giá mức độ độc hại của các hóa chất công nghiệp đối với môi trường.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21596/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











