Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học ứng dụng trong bảo vệ môi trường
Cập nhật vào: Thứ tư - 18/03/2026 09:07
Cỡ chữ
Trước tình hình phát triển ồ ạt của các chế phẩm sinh học trong xử lý ô nhiểm môi trường, nhằm kiểm soát VSV gây hại có trong các chế phẩm sinh học, Chính Phủ, các Bộ ngành đã ban hành các quy định về quản lý sản phẩm sinh học lưu hành trong nước, cũng như nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên, một số chế phẩm sinh học không rõ nguồn gốc vẫn đang trôi nổi trên thị trường, các chế phẩm không những đã không có tác dụng mà còn gây ra những mức độ nguy hiểm khác nhau cho môi trường như có chứa các nhóm VSV gây bệnh, hoặc một số VSV có ảnh hưởng tới năng suất chất lượng của sản phẩm nuôi trồng, sinh thái. Bên cạnh đó, một số tư nhân vì lợi nhuận đã sản xuất nhái các chế phẩm có thương hiệu tung ra thị trường làm mất uy tín, vi phạm bản quyền của các nhà sản xuất.
Mặc dù các tiêu chí đánh giá tính an toàn đối với môi trường của các chủng VSV đã được các Bộ ngành đề cập đến trong các quy định về quản lý chế phẩm sinh học nhưng nội dung chưa được đầy đủ, các phương pháp đánh giá còn cổ điển, chưa cập nhập các phương pháp hiện đại đảm bảo độ tin cậy, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, các nội dung trong quy định còn rải rác trong nhiều văn bản, lĩnh vực khó khăn khi tham chiếu và thực hiện.
Bên cạnh đó, mối tương tác tiềm ẩn giữa các tác nhân xử lý sinh học và chất thải và/hoặc với môi trường, hệ sinh thái v.v. cần được nghiên cứu thêm và đánh giá lại các yêu cầu về độc tính của sản phẩm khi cần thiết. Các khuyến nghị cho các cuộc điều tra trong tương lai về vấn đề này bao gồm mô tả về độc tính của sản phẩm trên từng cá thể. Do vậy để đánh giá toàn diện được mức độ an toàn của các chủng VSV có trong chế phẩm sinh học xử lý ô nhiễm môi trường, thì cần thiết phải xây dựng các tiêu chí đánh giá mức độ an toàn của các chủng VSV và các phương pháp đánh giá theo tiêu chí. Đây là công cụ giúp cho các cơ quan chức năng quản lý hiệu quả các chủng VSV gây hại đến môi trường và sức khỏe con người có trong các chế phẩm sản xuất trong nước cũng như được nhập khẩu vào Việt Nam.
Hiện nay tại Việt Nam, các Bộ ngành đã ban hành các danh mục các chế phẩm sinh học có liên quan theo lĩnh vực quản lý của mình, các danh mục này mới chỉ là các thông tin về đặc tính các chủng VSV được sử dụng trong lĩnh vực mà Bộ ngành quản lý chứ chưa đề cập đến lĩnh vực môi trường cũng như chưa có các biện pháp để kiểm soát như hạn chế, cấm lưu hành, cấm nhập khẩu các chủng VSV gây bệnh, gây hại đến môi trường. Bộ TN&MT với chức năng quản lý về BVMT cần thiết phải quản lý các VSV ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là các VSV có trong chế phẩm xử lý ô nhiễm môi trường, Bộ TN&MT đang thực hiện hoạt động cấp chứng nhận lưu hành chế phẩm sinh học trong BVMT theo Thông tư 19/2010/TT- BTNMT ngày 12 tháng 10 năm 2020 quy định đăng ký lưu hành chế phẩm sinh học trong xử lý chất thải tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc xác định các VSV gây bệnh còn gặp nhiều khó khăn, do số lượng sản phẩm lớn rất đa dạng về thành phần (các hợp chất tự nhiên, VSV, các chất hữu cơ, vô cơ...), chức năng (khử mùi, phân hủy rác thải, chất hữu cơ thành phân bón, xử lý sinh vật phù du, xử lý rác thải...).
Do đó, nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học trong ứng dụng bảo vệ môi trường, đảm bảo tính khoa học để đánh giá được mức độ ảnh hưởng đến môi trường Việt Nam của các chủng VSV có trong chế phẩm xử lý ô nhiễm môi trường để tránh gây ra ô nhiễm thứ cấp là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Phạm Thị Kiều Oanh cùng nhóm nghiên cứu tại Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế - Tổng Cục Môi trường thực hiện “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học ứng dụng trong bảo vệ môi trường” với mục tiêu: Làm rõ cơ sở khoa học phục vụ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học ứng dụng trong bảo vệ môi trường; Dự thảo Bộ tiêu chí đánh giá độ an toàn của chế phẩm sinh học trong bảo vệ môi trường.

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã thu được những kết quả như sau:
- Hiện nay các chính sách quy định về an toàn cơ sở vật chất nghiên cứu sinh học và các quy định về an toàn sinh học trong nước đã được ban hành tương đối đầy đủ, tập trung vào 3 lĩnh vực chính là y tế, nông nghiệp (thủy sản) và môi trường. Tuy nhiên, các quy định còn nhiều bất cập và chồng chéo, nhiều nội dung còn nằm rãi rác trong nhiều văn bản, chưa có hướng dẫn tiêu và phương pháp cụ thể để đánh giá.
- Các cơ cở, phòng thí nghiệm sinh học hoạt động với số lượng khá nhiều và phổ biến trên cả nước. Các phòng thí nghiệm đạt chuẩn, được trang bị cơ sở vật chất và có nguồn lực cán bộ chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu đánh giá được tính an toàn sinh học theo các tiêu chí quy dịnh trong nước và quốc tế hiện hành thì chỉ tập trung ở những phòng thí nghiệm lớn như: phòng thí nghiệm trọng điểm, thuộc các bộ ngành, trường đại học hoặc trực thuộc quốc gia.
- Căn cứ vào thực trạng trong nước và quốc tế, nhóm đề tài đã đề xuất được tiêu chí đánh giá tính an toàn sinh học theo 3 cấp độ an toàn, trong đó cấp độ 1 là độc cấp tính, cấp độ 2 là độc sinh sản và cấp độ 3 là độc hệ sinh thái dựa trên các chỉ tiêu như LD50, EC50, LOEC, NOEC, mức độ độc hại theo 5 mức của tổ chức thế giới GSH. Các tiêu chí xây dựng nhằm phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực nghiên cứu tại Việt Nam và đã để xuất cách thức quản lý lưu hành chế phẩm dựa theo các tiêu chí đánh giá .
- Thực hiện theo tiêu chí đề xuất, nhóm đề tài đã thực hiện đánh giá thử nghiệm tính an toàn của 06 chế phẩm có thành phần bao gồm các chủng vi sinh vật, enzyme và thành phần hóa học, theo 3 cấp độ. Trong đó cấp độ 1 thử nghiệm xác định độc tính cấp theo đường hô hấp, độc tính cấp gây kích ứng da trên chuột và thỏ; cấp độ 2 thử nghiệm xác định độc sinh sản; cấp độ 3 hệ sinh thái được đánh giá trên phôi cá ngựa vằn (Daniorerio) và rận nước (Daphnia sp.) theo các hướng dẫn của tổ chức OECD và quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN. Các kết quả nghiên cứu trên các đối tượng khác nhau là tương đồng. Các phương pháp thực hiện cho kết quả tin cậy, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất phòng thí nghiệm của Việt Nam. Do vậy các tiêu chí và phương pháp có thể được áp dụng trong các đánh giá về tính an toàn sinh học. Kết quả đánh giá có thể là cơ sở, căn cứ để đưa ra các biện pháp quản lý an toàn chế phẩm sinh học.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21598/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
Đ.T.V (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











