Nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp cho Keo lá tràm keo lai và Keo tai tượng
Cập nhật vào: Thứ năm - 18/09/2025 00:06
Cỡ chữ
Hoạt động trồng rừng sản xuất ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các loài keo mọc nhanh như keo lai, keo lá tràm và keo tai tượng, chiếm khoảng 2 triệu hecta. Tuy nhiên, việc trồng rừng thuần loài quy mô lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh chết héo phát sinh mạnh, gây thiệt hại nghiêm trọng. Năm 2015, bệnh đã xuất hiện ở 17 tỉnh, nhiễm gần 2.000 ha và khiến hơn 90 ha rừng chết hoàn toàn. Tình hình ngày càng phức tạp, với nhiều ổ dịch mới ở Đồng Nai và Cà Mau gây thiệt hại nặng, tỷ lệ chết trên 50%, buộc phải thanh lý rừng non mới 2-3 năm tuổi. Đến cuối năm 2020, bệnh đã lan rộng và gây hại rừng keo trên toàn quốc.
Trước diễn biến phức tạp này, Cục Bảo vệ thực vật đã chỉ đạo các chi cục theo dõi và áp dụng giải pháp khẩn cấp từ cuối năm 2015. Tỉnh Cà Mau thậm chí đã đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ xử lý dịch bệnh chết héo do nấm Ceratocystis spp. gây ra vào tháng 5 năm 2016, khi hàng trăm hecta rừng keo lai bị ảnh hưởng nặng và có xu hướng lan rộng. Năm 2017, Công ty Lâm nghiệp Ba Tơ, Quảng Ngãi cũng ghi nhận hơn 200 ha rừng keo lai 2 tuổi chết héo với tỷ lệ bệnh trên 70%. Bệnh chết héo do Ceratocystis spp. cũng đang là vấn đề toàn cầu, đặc biệt ở Malaysia và Indonesia, nơi hàng nghìn hecta rừng keo chết héo mỗi năm. Khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển của nấm Ceratocystis sp., loài gây bệnh chết héo trên rừng keo ở nhiều vùng sinh thái.
Nhằm đối phó với thách thức này, GS.TS. Phạm Quang Thu cùng các cộng sự tại Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp cho Keo lá tràm, keo lai và Keo tai tượng". Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tên khoa học, đặc điểm sinh học và sinh thái của nấm Ceratocystis sp., xây dựng 03 quy trình phòng trừ tổng hợp hiệu quả cho từng loài keo, và xây dựng 21 ha mô hình phòng trừ tổng hợp tại 03 vùng (Bắc, Trung, Nam), bao gồm 03 ha mô hình trồng mới tại vùng trọng điểm và 18 ha mô hình thử nghiệm trên rừng hiện có (2 ha/mô hình/loài/vùng).
Bệnh chết héo trên cây keo, do nấm Ceratocystis manginecans gây ra, có những triệu chứng đặc trưng như vết loét, thâm hoặc lõm trên vỏ thân/cành. Vỏ và gỗ xung quanh vết bệnh thường chuyển màu nâu đen hoặc xanh đen, đôi khi kèm theo chảy nhựa hoặc sùi bọt. Cây bị bệnh sẽ héo lá từ ngọn xuống và cuối cùng dẫn đến chết.
Nghiên cứu 90 chủng nấm C. manginecans cho thấy sự đa dạng về mức độ gây bệnh: 18 chủng rất mạnh, 28 chủng mạnh, 43 chủng trung bình và 1 chủng yếu. Nấm này không thể xâm nhập qua vỏ cây nguyên vẹn, nhưng khi có tổn thương ở lớp tượng tầng, sự xâm nhiễm trở nên dễ dàng nhất, với thời gian ủ bệnh chỉ 5-7 ngày và tỷ lệ nhiễm bệnh đạt 100% trên cây thí nghiệm. Nấm chủ yếu lây nhiễm qua các vết thương trên thân, cành và rễ. Rừng keo dễ bị nhiễm bệnh nặng nhất ở những khu vực có lượng mưa trung bình năm trên 2.400mm/na˘m hoặc ở các lập địa khô hạn nhưng có độ ẩm dầm. Rừng keo non cũng thể hiện tỷ lệ và mức độ bệnh nặng hơn so với rừng keo lớn tuổi.
Nguồn bệnh được phát hiện trong thân cây bệnh, trong không khí (tập trung ở độ cao 1.1-1.2m) và trong đất. Bào tử nấm đạt mật độ cao trong mùa mưa ẩm và có xu hướng tích tụ trong đất sau nhiều luân kỳ keo. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và pH có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng của hệ sợi nấm: phát triển mạnh nhất ở 25∘C, độ ẩm 75-80% và pH từ 6.0-6.5. Tuổi cây cũng tác động rõ rệt đến khả năng nhiễm bệnh, với rừng keo lá tràm và keo lai non dễ bị bệnh nặng hơn. Lịch sử canh tác đóng vai trò quan trọng: rừng trồng trên đất đã canh tác nhiều luân kỳ keo hoặc xen canh cây nông nghiệp có nguy cơ bị bệnh cao hơn. Đặc biệt, những nơi có lượng mưa lớn và độ ẩm không khí cao sẽ thúc đẩy nấm phát triển mạnh, làm tăng đáng kể mức độ bệnh chết héo.
Về phòng trừ, các biện pháp tổng hợp đã được chứng minh hiệu quả bao gồm: tỉa cành vào giữa mùa khô, tỉa đầu cành cho cây mới trồng và thực hiện tỉa đúng kỹ thuật để hạn chế gây tổn thương cho cây. Việc xử lý đất bằng vôi bột kết hợp phơi ải, cùng với sử dụng chế phẩm sinh học như Trichoderma viride (Tricô ĐHCT, Biobus 1.00WP…) và Bacillus subtilis (Bionite WP...), cũng như thuốc hóa học có hoạt chất Metalaxyl và Metalaxyl M (ví dụ: Mataxyl 500WP..., Lanomyl 680WP, Ridomil gold® 68WG...), đều mang lại hiệu quả cao trong việc phòng trừ nấm gây bệnh. Nghiên cứu cũng đã xác định được biện pháp sàng lọc nhanh các giống chống chịu thông qua gây bệnh trên lá và cây con ở vườn ươm. Các mô hình phòng trừ tổng hợp bệnh chết héo cho Keo lá tràm, keo lai và Keo tai tượng đã đạt hiệu quả trên 80%, góp phần tăng năng suất gỗ hơn 30% và nâng cao hiệu quả kinh tế trên 22%.
Đề tài đã thành công trong việc xây dựng 03 quy trình kỹ thuật và được Cục Bảo vệ thực vật công nhận là tiến bộ kỹ thuật với tên gọi “Quy trình kỹ thuật quản lý tổng hợp bệnh chết héo gây hại keo lá tràm, keo lai và keo tai tượng” (Mã hiệu: TBKT 01-113: 2021/BVTV) theo quyết định số 2170/QĐ-BVTV-KH ngày 22/11/2021. Để tối đa hóa tác động của nghiên cứu, đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận các kết quả và nhân rộng các mô hình của đề tài cũng như tiến bộ kỹ thuật đã được Cục Bảo vệ thực vật ban hành.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 21086/2022) tại Cục Thông tin, Thống kê.
P.T.T (NASTIS)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








