Khai thác và phát triển nguồn gen Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại tỉnh Hà Giang
Cập nhật vào: Thứ ba - 03/06/2025 00:05
Cỡ chữ
Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) còn có tên khác là Sa mộc dầu, Sa mộc Quế phong, thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) nhưng thuộc bộ Thông (Coniferales). Sa mộc dầu là nguồn gen quí hiếm được xếp nhóm IIa: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mạicủa nghị định 32/2006/NĐ-CP về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quí, hiếm. Ở mức độ toàn cầu, Sa mộc dầu được xếp vào nhóm sắp bị tuyệt chủng: VU A1c. Trên thế giới, Sa mộc dầu phân bố ở Đài Loan và Lào. Ở Việt Nam Phân bố hẹp tại một số địa phương như Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa và Nghệ An. Trong Sách đỏ Việt Nam- Phần thực vật 2007, loài Thông này chỉ được xếp vào thứ hạng sắp bị tuyệt chủng: VU A1a,d, C1. Tuy nhiên căn cứ vào các dẫn liệu thu thập được qua khảo sát, nghiên cứu ở gần 300 điểm còn rừng nguyên sinh ở hầu khắp nước ta trong khoảng 40 năm và đối chiếu với tiêu chí của các thứ hạng trong Danh lục đỏ của IUCN thấy loài đáp ứng được các tiêu chí đang bị đe dọa tuyệt chủng: ENA2c, B2ab (i-v). Ở Hà Giang khi cơn sốt gỗ và tinh dầu Sa mộc dầu rộ lên, việc khai thác trái phép đã đẩy loài này đến nguy cơ tuyệt chủng.

Trong nhiều năm ở Hà Giang người ta tin rằng loài này đã bị tuyệt chủng do bị khai thác quá mức nhiều năm liền. Nhằm bảo tồn các loài gỗ quí và bị đe dọa, tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 1972/QĐ-UBND ngày 15/9/2011 về việc tạm dừng cấp phép khai thác tận thu, tận dụng và khai thác gỗ nhóm IA, IIA có nguồn gốc từ rừng tự nhiên trên đia bàn tỉnh Hà Giang. Bên ngoài các khu bảo tồn thì tình trạng của Sa mộc dầu là rất nguy cấp (CR), thậm chí là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở một số khu vực [14]. Thực tế thì loài này đã tuyệt chủng cục bộ, tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở nhiều nhiều khu vực chúng từng phân bố. Hạt nảy mầm tốt nhưng rất hiếm gặp cây con. Quan sát cũng cho thấy rất hiếm gặp chồi mọc từ thân. Do vậy khả năng tái sinh tự nhiên rất kém. Cây tái sinh dưới tán rừng rất ít và chủ yếu ở gia đoạn cây mạ. Cây tái sinh ở giai đoạn cây con hầu như không bắt gặp. Đây là loài cây ưu tiên trong trồng rừng đặc dụng vì đáp ứng các tiêu chí liên quan đến tình trạng bị đe dọa, tính đặc hữu vùng, khả năng tái sinh tự nhiên kém. Do vậy việc nghiên cứu xây dựng vườn giống, thử nghiệm nhân giống hữu tính và vô tính là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, Chủ nhiệm đề tài Tiến sĩ Hồ Ngọc Sơn cùng nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thực hiện đề tài “Khai thác và phát triển nguồn gen Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại tỉnh Hà Giang” với mục tiêu khai thác và phát triển được nguồn gen Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại tỉnh Hà Giang.
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về thành phần và giá trị tinh dầu Sa mộc dầu. Tuy nhiên, nhìn chúng nghiên cứu về giá trị tinh dầu Sa mộc dầu ở Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu của Trần Huy Thái và cs (2007) cho thấy từ gỗ thu ở Pù Mát và Xuân Nha với các thành phần chính của tinh dầu là α-cedrol (30,0-37,0%), β -fenchy alcohol (16,1-27,5%), cedren (4,5-5,3%), borneol (4,2- 8,3%) và camphor (3,3-5,5%). Trong khi đó nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu Sa mộc dầu ở Hà Giang cho thấy hàm lượng tinh dầu đạt 0,8%. Có 34 hợp chất đã được xác định (chiếm 97,3% tổng lượng tinh dầu). Thành phần chính của tinh dầu gồm α-terpineol (36,6%), α-cedrol (29,8%), cis-α-dehydro terpineol (5,6%), borneol (4,6%), camphor (4,4%) và α-cedren (3,4%). “So sánh với thành phần chính trong tinh dầu của cùng loài Sa mộc dầu C. konishii, có phân bố ở Pù Mát và Xuân Nha thì đây có thể là một chemotyp mới (chemotyp α-terpineol) của loài loài Sa mộc dầu C. konishii ở Việt Nam” [10]. Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu về thành phần và giá trị tinh dầu Sa mộc dầu là rất cần thiết. Nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào xác định thành phần tinh dầu và thử hoạt tính của tinh dầu đối với một số công dụng như kháng vi khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa.
Tại Hà Giang đã xác định được Sa mộc dầu (Cunning hamia konishii Hayata) phân bố ở các khu vực là xã: Túng Sán, xã Tả Sử Choóng, và xã Bản Nhùng thuộc Khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh. Số lượng cá thể Sa mộc dầu ngoài tự nhiên còn rất ít do vậy nguy cơ tuyệt chủng là khá cao nếu không có biện pháp bảo tồn và phát triển kịp thời. Sa mộc dầu phân bố ở độ cao từ 900-1200m.
Sa mộc dầu là cây gỗ lớn chiều cao vút ngọn có thể lên tới 50m, đường kính đạt trên 2m, lá có sự khác biệt theo từng giai đoạn: Nón đơn tính cùng gốc, hạt có các cánh bên khá rộng dài khoảng 5mm, rộng khoảng 4mm. Là cây gỗ thường xanh, lá có chu kỳ sống khá dài trên cây.
Khả năng tái sinh của Sa mộc dầu rất kém, cây tái sinh dưới tán rừng rất ít chủ yếu ở giai đoạn cây mạ và hầu như không có cây tái sinh bằng cây con. Qua điều tra những khu vực có Sa mộc dầu phân bố không phát hiện cây tái sinh của loài này, điều này cho thấy mức độ quan trọng của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn, vì vậy cần có những giải pháp tác động hợp lý nhằm bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu tại khu vực nghiên cứu.
Giá trị nguồn gen Sa mộc dầu Gỗ Sa mộc dầu có thể dùng gỗ làm đồ mộc dân dụng và làm đồ thử công mỹ nghệ. Phân tích thành phần của lá, thân, rễ cây Sa mộc dầu cho thấy trong lá cây có chứa 21 hoạt chất; thân chứa 28 hoạt chất và rễ chứa 26 hoạt chất. Thử nghiệm hoạt chất kháng nguyên của các phần lá, thân và rễ cây Sa mộc dầu cho thấy mẫu lá cây Sa mộc dầu không thể hiện hoạt tính kháng các chủng vi sinh vật kiểm định ở nồng độ thấp hơn hoặc bằng 256 µg/ml. Mẫu thân cây Sa mộc dầu thể hiện hoạt tính kháng một số chủng vi khuẩn gram (+) với giá trị IC50 với nồng độ 27,78 µg/ml và 24,89 µg/ml. Với gram (-) không thể hiện hoạt tính kháng các chủng vi sinh vật kiểm định ở nồng độ thấp hơn hoặc bằng 256 µg/ml. Mẫu rễ cây Sa mộc dầu thể hiện hoạt tính kháng một số chủng vi khuẩn gram (+) với giá trị IC50 với nồng độ 15,39 µg/ml và 23,34 µg/ml. Với gram (-) không thể hiện hoạt tính kháng các chủng vi sinh vật kiểm định ở nồng độ thấp hơn hoặc bằng 256 µg/ml.
Bảo quản chế biến hạt Thu hái quả Sa mộc dầu khi vỏ quả còn xanh: Thế nẩy mầm, tỷ lệ nẩy mầm (15,8%; 35,7%) thấp hơn thu hái khi vỏ quả chuyển sang mầu vàng (19,6%, 42,7%) vàquá trình nẩy mầm (19,8 ngày) lâu hơn (18,2 ngày).
Phơi quả trong điều kiện trời nắng: Thế nẩy mầm, tỷ lệ nẩy mầm (18,2%; 37,1%) thấp hơn phơi quả trong điều kiện râm mát (18,7%; 44,1%) vàquá trình nẩy mầm (19,8 ngày) lâu hơn (18,2 ngày).
Nhiệt độ của môi trường bảo quản có ảnh hưởng đến sức sống của hạt giống cây Sa mộc dầu. Bảo quản hạt Sa mộc dầu trong môi trường có nhiệt độ 50 C là tốt nhất.
Cách thức đóng gói và sức sống của hạt Sa mộc dầu: Áp dụng phương pháp bảo quản khô kín trong môi trường có nhiệt độ 50 độ C là tốt nhất.
Thời gian bảo quản và sức sống của hạt Sa mộc dầu: Với hạt Sa mộc dầu không nên bảo quản lâu, sau 1 tháng bảo quản sức sống của hạt từ 43% giảm 1,67% còn 41,33%, sau 2 tháng còn 39%, sau 3 tháng còn 35,33%, sau 12 tháng bảo quản sức sống của hạt còn 1,33%. Độ ẩm hạt của hạt có ảnh hưởng đến tuổi thọ của hạt giống cây Sa mộc dầu. Độ ẩm của hạt Sa mộc dầu là 10% đem bảo quản là phù hợp.
Kỹ thuật xử lý hạt nảy mầm
Kích thích hạt bằng nước có nhiệt độ 40 độ C cho thế nẩy mầm, tỷ lệ nẩy mầm cao nhất và thời gian nẩy mầm của hạt Sa mộc dầu nhanh nhất. Nếu dùng nước ở nhiệt độ thấp hơn hoặc cao hơn để kích thích hạt Sa mộc dầu nẩy mầm đều cho kết quả thấp hơn. Ngâm hạt trong nước 4 giờ có ảnh hưởng tốt nhất đến tỷ lệ nẩy mầm và thời gian nẩy mầm của hạt Sa mộc dầu. Nếu ngâm hạt trong nước với thời gian ít hơn hay nhiều hơn 4 giờ để kích thích hạt Sa mộc dầu đều cho kết quả kém hơn. Nguyên nhân là do ngâm hạt trong nước chưa đủ thời gian để hạt Sa mộc dầu hút nước, hoặc hạt hút nước quá nhiều làm tiêu hao chất dự trữ trong hạt, đồng thời dễ làm cho hạt bị chua, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, dẫn đến hạt sẽ bị thối. Độ sâu lấp đất khi gieo hạt Sa mộc dầu tỷ lệ nghịch với tỷ lệ cây mầmvà tỷ lệ thuận với thời gian hình thành cây mầm. Độ sâu lấp đất 0,5cm có tỷ lệ cây mầm cao nhất và thời gian hình thành cây mầm là nhanh nhất.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 20736/2022) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
Đ.T.V (NASATI)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








