Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng tại Tây Nguyên
Cập nhật vào: Thứ sáu - 17/05/2024 00:04
Cỡ chữ
Tây Nguyên có tiềm năng to lớn về đất đai, khí hậu và các giống cây con bản địa có giá trị kinh tế cao để phát triển nông nghiệp hàng hoá. Tuy nhiên, để khai thác tiềm năng này hướng tới nền sản xuất nông nghiệp bền vững, theo kết luận của hội thảo “Phát triển nông nghiệp Tây Nguyên - Góc nhìn từ các nông dân tỉ phú” do Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp với Học viện Nông nghiệp VN tổ chức ngày 11 tháng 3 năm 2017 tại Ban Mê Thuột, việc phát triển nông nghiệp bền vững cần quan tâm đầy đủ tới các vấn đề (i) quy hoạch vùng trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai; (ii) cơ chế - chính sách thúc đẩy sản xuất hàng hóa; (iii) Tổ chức thị trường, và (iv) Ứng dụng kĩ thuật & công nghệ, nhất là công nghệ cao; trong đó cốt lõi là vấn đề tổ chức nông dân, tổ chức sản xuất và tổ chức thị trường gắn với việc tạo dựng và phát triển nền nông nghiệp hữu cơ ở Tây Nguyên.

Trong những năm qua, Nhà nước đã đầu tư không ít sức người, sức của cho phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên. Tuy nhiên, phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và vị trí vùng. Bộ mặt kinh tế xã hội của Tây Nguyên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập: Thu nhập bình quân còn thấp; Tỉ suất nông sản hàng hóa thấp; Giá bán nông sản thấp; Sức cạnh tranh của nông sản Tây Nguyên trên thị trường thế giới không cao. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do: (1) Đất đai manh mún, suy thoái và bất cập trong công tác quy hoạch vùng sản xuất. Các cây trồng chủ lực, cụ thể như cà phê phát triển với tốc độ quá nhanh và mang tính tự phát; (2) Kỹ thuật canh tác chưa hợp lý, người dân lạm dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và môi trường sản xuất; (3) Tài nguyên rừng cạn kiệt, đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng; (4) Tác động của biến đổi khí hậu; (5) Thiếu liên kết theo chuỗi giá trị một cách bền vững. Trong khi đó, các đề tài thực hiện trong Chương trình khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Nguyên mới đang tập trung vào các ngành, các sản phẩm cụ thể, do vậy chưa đánh giá được một cách tổng thể những tiềm năng, cơ hội, cũng như thách thức của nông nghiệp Tây Nguyên.
Xuất phát từ thực tiễn trên, Giáo sư , Tiến sĩ Trần Đức Viên cùng nhóm nghiên cứu tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng tại Tây Nguyên” với mục tiêu đánh giá được tổng thể về thực trạng, xác định những yếu tố thúc đẩy và cản trở phát triển nông nghiệp và đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững Tây Nguyên.
Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận kế thừa để thu thập thông tin thứ cấp. Số liệu thứ cấp gồm các tài liệu nghiên cứu, báo cáo tổng kết từ các đề tài dự án, chương trình KH&CN các cấp, kết quả thực hiện các nghị quyết của các tỉnh… Số liệu thứ cấp được thu thập từ các Bộ ngành liên quan, các cơ quan quản lý (Sở NN&PTNT, Sở KH&CN, Sở Công thương, Phòng Nông nghiệp, Phòng Kinh tế…), các xã, các tổ chức và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tình hình sử dụng đất trên địa bàn vùng Tây Nguyên: Theo kết quả điều tra Nông thôn 2016, trên địa bàn Tây Nguyên có 929,290 đơn vị sản xuất nông lâm nghiệp gồm: 321 doanh nghiệp (177 doanh nghiệp nông nghiệp và 137 doanh nghiệp lâm nghiệp); 80 hợp tác xã (71 hợp tác xã nông nghiệp, 9 hợp tác xã lâm nghiệp), 864.810 Hộ gia đình (862.568 hộ gia đình nông nghiệp, 1.555 hộ gia đình lâm nghiệp). Quy mô lao động/đơn vị sản xuất bình quân: 1- 3 lao động: 775.138; 4-9 lao động: 150.818, 10-50 lao động: 244; 51-100 lao động: 22, Trên 100 lao động: 70. Tổng số hộ gia đình nông thôn: 864.810; hộ gia đình sản xuất nông nghiệp 862.568, hộ gia đình sản xuất lâm nghiệp 1.555. Quy mô bình quân diện tích đất nông lâm nghiệp của hộ gia đình cá nhân không cao: nhóm đất nông nghiệp: 5,69 ha/hộ (nông thôn), trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 2,81 ha/hộ (nông nghiệp), đất lâm nghiệp: 1,59 ha/hộ (lâm nghiệp).
Đất sản xuất nông nghiệp là 2.447,7 nghìn ha chiếm 44,5% diện tích tự nhiên cao hơn của vùng trung du và miền núi khác của cả nước, với 1.400 nghìn ha đất bazan. Tuy nhiên, hiện tượng suy giảm độ phì của đất sản xuất nông nghiệp tại Tây Nguyên diễn ra phổ biến, sản xuất các loại cây trồng chính như cà phê, tiêu, sắn, ngô không bền vững.
Trữ lượng nước ngầm trong vùng đang bị khai thác quá mức, ngày càng cạn kiệt. Nguồn nước mặt và nước ngầm dùng để tưới cho nông nghiệp đã có cảnh báo về ô nhiễm về chất hữu cơ, do rửa trôi phân bón vô cơ N, P, thuốc bảo vệ thực vật... Kiểm soát chất lượng nước là nhiệm vụ quan trọng để phát triển nông nghiệp bền vững vùng Tây Nguyên.
Suy giảm nguồn nước tại Tây Nguyên cũng chịu ảnh hưởng của xu thế suy thoái do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. Lũ, úng xảy ra vào cuối mùa mưa (tháng 9, 10). Hạn hán phổ biến vào mùa khô (tháng 11 đến tháng 4 năm sau) gây thiếu nước tưới trầm trọng cho cây trồng đặc biệt là cà phê, hồ tiêu. Nhiệt độ không khí có xu thế ngày một tăng lên và kịch bản có thể chấp nhận được là đến năm 2070, nhiệt độ ở các vùng ven biển có khả năng tăng thêm +1,5oC, vùng nội địa tăng +2oC, kéo theo lượng hơi nước bốc lên tăng khoảng (7,7-8,4)%, nhu cầu tưới tăng lên, hiện tượng El Nino mỗi khi xuất hiện cũng gắn liền với việc gây hạn hán rất nặng nề tại Tây Nguyên.
Về lĩnh vực trồng trọt: Sản xuất cây công nghiệp dài ngày (cây hồ tiêu, cây cà phê và cây cao su) vượt quy hoạch tương ứng là 210,00%, 33,00%, 18,75%. Sản xuất cây dược liệu chưa phát triển; Giống và phân bón sử dụng chưa được kiểm soát: Hiện tượng giống giả, phân kém chất lượng khá phổ biến. Lượng phân bón sử dụng chưa theo quy trình kỹ thuật, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều làm ô nhiễm môi trường và giảm chất lượng sản phẩm. Vấn đề sâu bệnh hại cây trồng đang là thách thức lớn đối với nông nghiệp Tây Nguyên: Cây cà phê: sâu hại gồm rệp, rầy và sâu đục thân; bệnh hại gồm rỉ sắt, khô đầu cành, nấm hồng và thán thư; Cây hồ tiêu: bệnh chết nhanh chết chậm; Cây cao su: sâu hại gồm mối và sùng hại rễ, bệnh hại gồm đốm lá, phấn hồng, loét, thối thân. Chất lượng của thuốc bảo vệ thực vật còn đáng lo ngại: có đến 39,05% số hộ khảo sát cho rằng thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo chất lượng. Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, phân bón và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Bảo quản sau thu hoạch còn thiếu và yếu.
Về lĩnh vực chăn nuôi - thú y: Chăn nuôi bò thịt chủ yếu là quy mô nhỏ. Có khá nhiều giống và các tổ hợp bò lai, trong đó tổ hợp lai với bò Lai Sind, Brahman là chủ yếu ở nhóm nuôi quy mô lớn. Tổ hợp bò lai BBB chủ yếu phát triển ở tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Lắk. Trái lại ở nhóm nuôi quy mô nhỏ tỉ lệ bò Vàng chiếm cao và sau đó là bò lai với bò Lai Sind và 74 Brahman. Tình trạng thiếu thức ăn thô xanh nuôi bò vào mùa khô. Số cơ sở có chế biến, dự trữ thức ăn đáp ứng đủ để nuôi bò là chưa nhiều. Năng suất và hiệu quả chăn nuôi ở nhóm bò đực lai BBB lai với bò cái HF là cao nhất, sau đó đến bò đực ngoại lai với bò cái lai zebu và thấp nhấp ở nhóm bò đực Lai Sind lai với bò cái Vàng.
Chăn nuôi bò sữa ở Tây Nguyên chủ yếu phát triển ở tỉnh Lâm Đồng (chiếm 81,18% tổng số bò sữa của vùng) và tỉnh Gia Lai (chiếm 12,73%). Trong đó có 2 tỉnh Kon Tum và Đắk Nông là không chăn nuôi bò sữa. Đã có những chủ trương chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa, quy mô chăn nuôi bò sữa có chiều hướng ổn định ở xung quanh 28,09 con/hộ ở nhóm hộ nuôi quy mô lớn và 4,62 con/hộ ở nhóm hộ nuôi quy mô nhỏ. Nguồn cung cấp thức ăn cho bò sữa là đa dạng và ổn định trong cả mùa khô và mùa mưa gồm cỏ trồng, ngô và phụ phẩm nông nghiệp (vỏ chanh leo, bí ngô, cà rốt, khoai lang…). Hiện nay đang có xu hướng phát triển nuôi bò thịt trong cơ sở nuôi bò sữa. Sử dụng bò sữa là cái nền phối giống với bò đực giống chuyên thịt tạo bê giống nuôi thương phẩm.
Dê khá phát triển trong những năm vừa qua với mức tăng trưởng hàng năm trên 20% trong giai đoạn 2014-2019. Đàn dê được phát triển mạnh nhất ở tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắk Lắk. Quy mô chăn nuôi dê nhỏ, trung bình từ 23,93-25,93 con/hộ, trong đó dê sinh sản trung bình là 6,5-9,2 con/hộ. Giống dê nuôi ở Tây Nguyên chủ yếu là giống dê nội (dê Bách Thảo), hiên nay mới có một số hộ chăn nuôi thử nghiệm nuôi dê lai (Boer × Bách Thảo), tuy nhiên tỉ lệ chưa cao. Kênh tiêu thụ dê thịt đã có nhưng chưa phát triển.
Về lĩnh vực thủy sản: Tây Nguyên có tiềm năng trong nuôi cá truyền thống trong ao nước chảy, nuôi cá lồng trên hồ và nuôi cá nước lạnh. Diện tích NTTS ở Tây Nguyên là 13,9 nghìn ha, chỉ chiếm 1,23% tổng diện tích NTTS của cả nước. Diện tích NTTS ở Tây Nguyên chủ yếu phát triển ở tỉnh Đắk Lắk là 8,1 nghìn ha, chiếm 58,27% tổng diện tích NTTS trong vùng. Ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Đắk Nông nuôi trồng thuỷ sản còn chưa phát triển. Hiện nay nuôi trồng thủy sản ở Tây Nguyên gồm 2 nhóm chính là nhóm cá nước lạnh (cá tầm và cá hồi) chủ yếu phát triển ở Lâm Đồng và nhóm cá truyền thống (cá chép, cá rô phi, cá trắm, cá trôi, cá mè) phát triển nhiều nhất ở Đắk Lắk. Có ba phương thức nuôi cá ở vùng Tây Nguyên bao gồm nuôi cá ao nước tĩnh, nuôi cá ao nước chảy, nuôi cá lồng và chủ yếu là phương thức nuôi cá ao nước tĩnh. Cá nước lạnh: chủ yếu phát triển ở tỉnh Lâm Đồng. Tỉnh Lâm Đồng có 50ha nuôi cá nước lạnh chiếm 77,27% tổng diện tích nuôi cá nước lạnh của cả nước (64,71 ha) với hai loài cá nước lạnh chính được nuôi ở Lâm Đồng là cá tầm và cá hồi.
Về lâm nghiệp và hệ thống nông lâm kết hợp: Rừng trồng có tăng về diện tích nhưng do rừng tự nhiên giảm nhanh làm tổng diện tích che phủ có xu hướng giảm. Có nhiều hình thức quản lý rừng (9 nhóm chủ quản) nhưng chưa hiệu quả, nhất là những mô hình quản lý nhà nước. Nhận thức xã hội hóa nghề rừng còn lúng túng trong bước đi, mô hình và cơ chế khuyến khích. Các vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản vẫn tiếp tục nghiêm trọng, kinh doanh rừng dựa vào khai thác rừng trồng và rừng tự nhiên không hiệu quả. Tranh chấp diện tích trong quy hoạch phát triển vẫn còn phổ biến, kéo dài, chưa có điều kiện tháo gỡ. Cà phê được xem là cây trụ cột của các hệ thống NLKH tại Tây Nguyên (76%). Về cơ bản, thu nhập chính của các hộ từ cây công nghiệp (cà phê, tiêu) và cây ăn quả trồng xen. Chỉ có 4% số hộ có đất rừng, trồng cây lấy gỗ. Số hộ chăn nuôi ít, phân tán, và chủ yếu phục vụ nhu cầu cho gia đình. Chỉ một số ít hộ chăn nuôi bò, gà và tằm cho mục đích thương mại.
Có thể tìm đọc toàn văn báo cáo kết quả nghiên cứu (mã số 19738/2021) tại Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
Đ.T.V (NASATI)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh








