Ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia
Cập nhật vào: Thứ ba - 31/03/2026 10:03
Cỡ chữ
Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng đã ký Quyết định số 11/2026/QĐ-TTg ngày 28/3/2026 ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia. Nội dung cốt lõi của văn bản là chính thức xác lập danh mục các cơ sở dữ liệu quốc gia của Việt Nam, đồng thời quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu.

Về quy định trách nhiệm thi hành, Bộ Công an giữ vai trò đầu mối quan trọng: tổ chức triển khai, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tổng hợp, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục để trình Thủ tướng xem xét. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với Khung Kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia và Từ điển dữ liệu dùng chung; đồng thời phối hợp với Bộ Công an trong việc cập nhật, điều chỉnh danh mục khi cần thiết. Văn bản có hiệu lực từ ngày 19/5/2026.
Phần phụ lục xác định 20 cơ sở dữ liệu quốc gia, mỗi cơ sở dữ liệu đều nêu rõ: cơ quan chủ quản, mục tiêu xây dựng, phạm vi dữ liệu, thông tin về dữ liệu chủ, đối tượng và mục đích khai thác, sử dụng, nguồn dữ liệu xây dựng và cập nhật, cùng phương thức chia sẻ dữ liệu. Điểm chung của hầu hết các cơ sở dữ liệu là việc chia sẻ dữ liệu phải tuân theo Nghị định số 278/2025/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan.
Nhóm đầu tiên do Bộ Công an chủ quản, thể hiện vai trò trung tâm của dữ liệu dân cư và dữ liệu lõi trong quản trị quốc gia. Đó là: Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, được mô tả như một hạ tầng kho dữ liệu tổng hợp phục vụ khai thác, sử dụng chung, đồng thời hỗ trợ thống kê, tổng hợp, chỉ đạo điều hành và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, phục vụ quản lý nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; Cơ sở dữ liệu danh tính điện tử; Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh; Cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; và Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo. Điểm đáng chú ý là việc đưa “cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo” vào danh mục cho thấy dữ liệu phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI đã được xác định là một thành phần hạ tầng dữ liệu ở cấp quốc gia.
Nhóm tiếp theo do Bộ Tài chính quản lý, gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính, Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm. Các cơ sở dữ liệu này hướng tới mục tiêu tích hợp, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu tài chính, doanh nghiệp và bảo hiểm để phục vụ quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, đồng thời làm nguồn thông tin cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Trong đó, cơ sở dữ liệu về tài chính nhấn mạnh chức năng tổng hợp, phục vụ điều hành và giám sát tài chính; cơ sở dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp phục vụ cấp số liệu, thông tin tổng hợp cho quản lý kinh tế; còn cơ sở dữ liệu về bảo hiểm lưu trữ, quản lý và cung cấp thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo hướng thống nhất và điện tử hóa.
Một nhóm quan trọng khác liên quan đến tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững. Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ quản của Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và Cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu. Cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ quản lý nhà nước về đất đai, kết nối với các dữ liệu khác và hỗ trợ khai thác thông tin địa chính, quyền sử dụng đất. Cơ sở dữ liệu về biến đổi khí hậu được xây dựng để quản lý, cập nhật, khai thác và sử dụng dữ liệu về khí hậu, thích ứng và giảm nhẹ tác động biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn quốc. Đây là cơ sở cho quản lý môi trường và điều hành phát triển bền vững.
Bộ Nội vụ quản lý ba cơ sở dữ liệu quốc gia lớn: về cán bộ, công chức, viên chức; về an sinh xã hội; và về tài liệu lưu trữ do Phông lưu trữ nhà nước Việt Nam quản lý. Cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức nhằm cập nhật thường xuyên, phục vụ tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm và các hoạt động quản lý nhân sự khu vực công. Cơ sở dữ liệu an sinh xã hội hỗ trợ tuyên truyền, quản lý, lập kế hoạch, quyết định và giám sát việc thực hiện chính sách an sinh. Cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ quốc gia nhằm phục vụ quản trị quốc gia và hoạch định chính sách thông qua việc số hóa, cập nhật và bảo quản nguồn tư liệu có giá trị lịch sử, pháp lý và hành chính.
Ngoài ra, danh mục còn bao gồm các cơ sở dữ liệu quốc gia theo lĩnh vực quản lý chuyên ngành: Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính do Bộ Tư pháp quản lý, phục vụ công khai, chuẩn hóa và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến; Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng do Bộ Xây dựng quản lý; Cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế do Bộ Y tế quản lý, phục vụ quản lý ngành y, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị y tế và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, phục vụ quản lý giáo dục quốc dân và hỗ trợ phát triển nền giáo dục toàn diện, bao trùm; và Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập do Thanh tra Chính phủ quản lý, hướng tới hiện đại hóa, số hóa công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, hỗ trợ minh bạch và phòng, chống tham nhũng.
Tóm lại, ý nghĩa lớn nhất của tài liệu là: Nhà nước đã xác lập một bức tranh tổng thể về hạ tầng dữ liệu quốc gia, phân công rõ cơ quan chủ quản cho từng cơ sở dữ liệu, đặt nền tảng cho việc quản trị dữ liệu thống nhất, liên thông và phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Danh mục này không chỉ bao quát các lĩnh vực cốt lõi như dân cư, tài chính, đất đai, y tế, giáo dục, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới như danh tính điện tử, định danh địa điểm và trí tuệ nhân tạo. Văn bản vì vậy có thể xem là một bước chuẩn hóa quan trọng trong tiến trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở Việt Nam.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 19/5/2026.
A.T (tổng hợp)
Liên hệ
Tiếng Việt
Tiếng Anh











