Logo_header
Số lượt truy cập: 7990384
Lịch sử và các mô hình của giáo dục và đào tạo khởi nghiệp
Cập nhật lúc: 11 Tháng Mười 2018 3:45:54 CH

Kể từ khi khóa học khởi nghiệp đầu tiên được tổ chức bởi Giáo sư Myles Mace tại Trường Kinh doanh Harvard vào năm 1947, các chương trình giáo dục và đào tạo khởi nghiệp (GD&ĐTKN) trong trường đại học đã phát triển nhanh chóng và trên quy mô toàn cầu (Kuratko, 2005; Solomon, 2007). Đến năm 1970 có 16 trường đại học và cao đẳng tại Mỹ có GD&ĐTKN, năm 1975, con số này là khoảng 100 trường và tăng lên 250 vào năm 1985, và hơn 400 trường năm 1995. Đến những năm 2010, hơn 400.000 sinh viên Mỹ theo học môn khởi nghiệp tại hơn 9000 khoa dạy khởi nghiệp của nước này. Hiện có hơn 1.600 trường đại học và cao đẳng Mỹ cung cấp các khóa học và bằng cấp về GD&ĐTKN.


Theo sau Mỹ, các trường đại học của Canada bắt đầu cung cấp khóa học khởi nghiệp vào những năm 1970. Năm 1997, chính phủ Đức đã khởi xướng một sáng kiến khởi nghiệp tại các trường đại học, với mục tiêu giảng dạy khởi nghiệp và văn hóa kinh doanh. Trung Quốc đại diện cho một cường quốc mới nổi về GD&ĐTKN. Các tổ chức quốc tế như OECD, Ủy ban châu Âu và các tổ chức khác đều nhận ra giá trị của GD&ĐTKN.

Trên phạm vi toàn cầu, trong ba thập kỷ qua GD&ĐTKN đã phát triển mạnh mẽ, từ 600 trường cao đẳng và đại học cung cấp các khóa đào tạo khởi nghiệp năm 1986 đến nay con số này là hơn 2.600 trường.

Sự tăng trưởng này phản ánh sự công nhận ngày càng tăng rằng các chương trình GD&ĐTKN hứa hẹn hỗ trợ một loạt các kết quả khởi nghiệp tiềm năng (Nabi & Liñ ´an, 2011; Rideout & Gray, 2013). Ví dụ, nâng cao kỹ năng sáng tạo, kiến thức và thái độ của sinh viên (Greene & Saridakis, 2008), khởi nghiệp sau đại học, tạo việc làm (Greene, Katz, & Johannisson, 2004; Rideout & Gray, 2013), tăng trưởng và phát triển (Bosma, Acs, Autio, Coduras, & Levine, 2008).

Trong khoảng thời gian 25 năm (1970-1995), các phương pháp sư phạm được áp dụng để truyền tải các kỹ năng và kiến thức khởi nghiệp đã trải qua những thay đổi lớn. Phù hợp với phương pháp giảng dạy quản trị kinh doanh và dưới ảnh hưởng của Trường Kinh doanh Harvard, GD&ĐTKN truyền thống trước đay tập trung vào các nghiên cứu điển hình. Nó được mô tả là "phương pháp học cũ" đối với đào tạo doanh nghiệp nhỏ mang những đặc điểm: cách tiếp cận cực đoan theo hướng môn học với phương châm lấy kế hoạch kinh doanh là trung tâm học thuật của khóa học. Phần lớn các chương trình học khởi nghiệp được giảng bởi những người bên ngoài trường có kinh nghiệm thực tế, họ trình bày những câu chuyện thú vị, lời khuyên thiết thực và truyền cảm hứng. Giờ đây, các chương trình GD&ĐTKN đã được hoàn thiện rất nhiều và hầu hết các trường đại học lớn trên thế giới đều dạy khởi nghiệp, khởi nghiệp đã trở thành một môn học độc lập.

Các mô hình GD&ĐTKN
Một mô hình GD&ĐTKN có thể được định nghĩa là một cấu trúc hoặc cách bố trí các cấu trúc tạo thành khuôn khổ của một chương trình GD&ĐTKN. Một mô hình bao gồm tất cả các yếu tố đào tạo được trình bày. Pretorius et al. (2005: 420) đã xác định một mô hình như một cấu trúc được sử dụng làm phương châm cho việc biên soạn các chương trình GD&ĐTKN. Hai mô hình hiện có được phát triển độc lập cho các chương trình khởi nghiệp ở Nam Phi. Một số mô hình GD&ĐTKN khác tồn tại trên toàn thế giới, nhưng hai mô hình này được sử dụng rộng rãi hơn. Mỗi mô hình được phát triển cho các kết quả theo ngữ cảnh riêng và khác nhau. Mô hình đầu tiên là Mô hình Giáo dục Thực hiện Khởi nghiệp (Entrepreneurial Performance Education Model).

Mô hình giáo dục thực hiện khởi nghiệp (mô hình E/P)
Công thức cho mô hình E / P được minh họa là: E/P = f [aM (bE/S x cB/S)]

Trong đó: E/P = Thực hiện khởi nghiệp; M = Động lực; E/S = Kỹ năng khởi nghiệp; B/S = Kỹ năng kinh doanh; a đến c = Hằng số

Mô hình, được phát triển bởi Van Vuuren và Nieman (1999: 6), có liên quan tới các yếu tố thúc đẩy thực hiện khởi nghiệp và được phát triển để hướng dẫn phát triển giáo trình. Bốn yếu tố (E/P, M, E/S và B/S) trong mô hình này được mô tả chi tiết.

Thực hiện khởi nghiệp (E/P): Theo Ladzani và Van Vuuren (2002: 156), thực hiện khởi nghiệp dựa trên sự khởi đầu của một sự kinh doanh/sử dụng một cơ hội, và sự phát triển của ý tưởng kinh doanh. Thực hiện khởi nghiệp đi đôi với kết quả khởi nghiệp hoặc kết quả liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu khởi nghiệp đã thiết lập.

Động lực: Đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các lý thuyết tổ chức mới về tạo ra tổ chức.

Kỹ năng khởi nghiệp (E/S): Kỹ năng kỹ thuật: Viết và nói; Giám sát môi trường; Tận dụng công nghệ; Mối quan hệ giữa các cá nhân; Khả năng tổ chức; Phong cách quản lý. Kỹ năng quản lý kinh doanh: Ra quyết định, Lập kế hoạch và chiến lược, Quan hệ con người, Tiếp thị, Tài chính, Kế toán, Quản lý chung, Kỹ năng đàm phán, Lập kế hoạch kinh doanh, Truyền thông, Quản lý tăng trưởng. Kỹ năng kinh doanh cá nhân: Kiểm soát nội bộ, Xu hướng rủi ro, Đổi mới, Sáng tạo, Nhận dạng cơ hội, Định hướng thay đổi, Sự bền bỉ, Lãnh đạo có tầm nhìn xa.

Kỹ năng kinh doanh: Các kỹ năng kinh doanh cần thiết để điều hành doanh nghiệp hàng ngày, bao gồm: quản lý chung, quản lý tiếp thị, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý sản xuất và hoạt động, quản lý truyền thông của công ty, quản lý thông tin và kinh doanh điện tử và quản lý mua bán vật liệu.

Mô hình GDKN (mô hình E/E)
Mô hình thứ hai cần giải thích thêm là mô hình E/E. Công thức cho mô hình E/E được minh họa là: E/E = f [aF (bA x cB/P) x (dE/S x eB/S)]

Trong đó: E/E = GDKN để khởi nghiệp; F = Kỹ năng, kiến thức và động lực; A = Phương pháp tiếp cận được sử dụng bởi người hỗ trợ; B/P = Sử dụng Kế hoạch Kinh doanh; E/S = Chủ đề thành công của khởi nghiệp và kiến thức; B/S = Kỹ năng và kiến thức kinh doanh; a đến e = Hằng số

Mô hình này, được phát triển bởi Pretorius (2001: 122), không chỉ xem xét nội dung của các chương trình GDKN mà còn là bối cảnh trong đó các chương trình như vậy được điều hành bởi các điều phối viên và các phương pháp mà họ sử dụng. Mô hình cũng mô tả các yêu cầu đối với bất kỳ chương trình học tập nào cần tăng cường khả năng của những người tham gia để đạt được mức năng lực cần thiết cho các doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Giáo dục để cải thiện mô hình thực hiện khởi nghiệp (E for E/P)

Đây là mô hình tích hợp với công thức:

E for E/P = f [aF x bM (cE/S x dB/S) x (eA + fB /P)]

Trong đó: E for E/P = Giáo dục để cải thiện thực hiện khởi nghiệp; F = Khả năng, kỹ năng, động lực và kinh nghiệm của giảng viên; M = Động lực; E/S = Kỹ năng khởi nghiệp; B/S = Kỹ năng kinh doanh; A = Phương pháp tiếp cận của việc học được sử dụng bởi người hướng dẫn; B/P = Sử dụng Kế hoạch Kinh doanh; a đến f = Hằng số.

Do đó, E for E/P là chức năng tuyến tính của khả năng và kỹ năng của người hỗ trợ (aF) để tăng cường động lực (bM), kỹ năng khởi nghiệp (cE/S) và kỹ năng kinh doanh (dB/S) thông qua việc sử dụng sáng tạo các cách tiếp cận khác nhau (giá trị của eA) và cụ thể là kế hoạch kinh doanh (fB/P). Thông thường động lực và kỹ năng khởi nghiệp sẽ là yếu tố của kỹ năng con người, trong khi kỹ năng kinh doanh và sử dụng kế hoạch kinh doanh là những yếu tố của kỹ năng mạo hiểm. Các phương pháp tiếp cận được sử dụng và người điều phối sẽ đóng góp vào các yếu tố của môi trường học tập.
P.A.T (NASATI), theo Entrepreneurship Education and Training Programs around the World Dimensions for Success Alexandria Valerio, Brent Parton, and Alicia Robb (The World Bank); Entrepreneurship Education and Training, Jose C. Sanchez, 2018


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại