Logo_header
BoKH&CN
KHCN & Địa phương
TIỂU DỰ ÁN "HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THỐNG KÊ, ĐÁNH GIÁ, ĐO LƯỜNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TAOI" (FIRST-NASATI)
Strenthening Results Measurement in Science, Technology and Innovation


Bộ Khoa học và Công nghệ nhận được khoản tài trợ vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới (World Bank) thông qua Hiệp định Tài trợ ký ngày 25/7/2013 (Khoản Tín dụng số 5257-VN) để triển khai thực hiện Dự án "Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ" – Dự án FIRST. Dự án có hiệu lực triển khai từ 22/10/2013 – 30/6/2019.

Mục tiêu của dự án FIRST là hỗ trợ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam thông qua việc thiết kế và thí điểm các chính sách KH&CN và đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và phát triển được dự án hỗ trợ, đồng thời khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp đổi mới công nghệ.

Dự án sẽ hỗ trợ phát triển KH&CN ở Việt Nam thông qua 3 hợp phần:
Hợp phần 1: Hỗ trợ cơ sở để hoạch định chính sách và thí điểm chính sách KH&CN
- Hợp phần 2: Hỗ trợ chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập và Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
- Hợp phần 3: Quản lý Dự án

Tiểu dự án "Hoàn thiện hệ thống thống kê, đánh giá, đo lường KH&CN và đổi mới sáng tạo" (Strenthening Results Measurement in Science, Technology and Innovation), gọi tắt là Tiểu dự án FIRST-NASATI, là tiểu hợp phần 1b của Hợp phần 1 của Dự án 
Dự án "Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ" .

Tiểu dự án FIRST-NASATI có mục tiêu
nâng cấp và hiện đại hóa việc thu thập, phổ biến và sử dụng các số liệu thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới từ các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu.


Các nhiệm vụ chính của Tiểu dự án bao gồm:

1. Tăng cường công tác thống kê KH&CN và đổi mới sáng tạo theo
phương pháp luận OECD và chuẩn mực quốc tế

Hiện nay công tác thống kê KH&CN được phát triển hầu như từ đầu. Nếu chỉ sử dụng nguồn ngân sách nhà nước thì việc tiếp cận các phương pháp luận tiên tiến, đồng bộ và tương hợp quốc tế sẽ rất chậm và khó khăn. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thống kê KH&CN từ Bộ KH&CN, các Sở KH&CN, các Viện nghiên cứu và trường đại học còn rất hạn chế. Trong khi đó, các đối tượng tham gia hoạt động KH&CN và đổi mới sáng tạo rất đa dạng và chỉ có thể thông qua các cuộc điều tra chuyên đề (nghiên cứu và phát triển, tiềm lực KH&CN và đổi mới sáng tạo) mới thu thập các số liệu thống kê đầy đủ và có tính đại diện cao. Do vậy, công tác thống kê KH&CN cần phải được ưu tiên phát triển theo hướng hiện đại hóa và theo chuẩn mực quốc tế. Các số liệu thống kê KH&CN được thu thập qua các cuộc điều tra là nền tảng quan trọng tiến hành công tác đánh giá hoạt động KH&CN và đổi mới sáng tạo đối với một số tổ chức, chương trình và đề tài...

Các hoạt động chính của hợp phần này bao gồm: Hoàn thiện phương pháp luận thống kê KH&CN phù hợp với tình hình Việt Nam; Tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thống kê KH&CN trên toàn quốc; Tiến hành các cuộc điều tra NC&PT và đổi mới sáng tạo; Nâng cao năng lực của hệ thống thống kê KH&CN tại các địa phương.

2.2 Xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá các tổ chức KH&CN

Các tổ chức khoa học và công nghệ công lập (sau đây gọi là tổ chức KH&CN) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia. Các tổ chức này có nhiệm vụ xác định và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội và đưa ra các định hướng phát triển. Họ được hỗ trợ kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước nhằm tạo ra tri thức khoa học và phát triển các công nghệ mà các cơ quan nghiên cứu thuộc khu vực tư nhân không thể đảm nhiệm. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, các tổ chức KH&CN đã có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển đất nước, tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu ngày nay, kết quả mà họ tạo ra chưa thỏa mãn với yêu cầu của thực tiễn. Một trong những nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN là vì các cơ quan quản lý chưa nắm được thông tin về kết quả hoạt động của các tổ chức KH&CN một cách hệ thống và kịp thời để điều chỉnh các chính sách hỗ trợ họ hoàn thành nhiệm vụ.

Nhằm nâng cao kết quả hoạt động của các tổ chức KH&CN và tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế và đổi mới, các Bộ, ngành và địa phương cần phải có được thông tin về kết quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu trực thuộc, nắm được điểm mạnh, điểm yếu, những vấn đề tồn tại từ đó xây dựng các chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ các tổ chức hoàn thành nhiệm vụ. Những thông tin này chỉ có thể được cung cấp một cách hiệu quả thông qua hệ thống giám sát và đánh giá các tổ chức KH&CN.

Các hoạt động chính của hợp phần này bao gồm: Nghiên cứu xây dựng khung đánh giá các tổ chức KH&CN công lập (GRIs); Tiến hành đánh giá thử nghiệm một số tổ chức GRIs.

2.3. Lập bản đồ công nghệ

Bản đồ công nghệ, bản đồ lộ trình công nghệ, lộ trình công nghệ là khái niệm đã được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi tại nhiều nước đặc biệt là tại Canada, Úc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore ở nhiều cấp độ khác nhau. Phổ biến hơn cả, tại đa số các nước, người ta nghiên cứu và sử dụng bản đồ công nghệ như một công cụ kế hoạch hóa quá trình phát triển công nghệ ở tầm chiến lược cho quốc gia, ngành và doanh nghiệp và điều này cũng đã đem lại sự thành công cho các nước này: Như việc xây dựng bản đồ lộ trình công nghệ quốc gia trong ngành bán dẫn, hay Bản đồ công nghệ trong ngành nhôm của Hoa Kỳ, xây dựng bản đồ công nghệ quốc gia 2002-2012 của Hàn Quốc.

Nhận thức được tầm quan trọng của điều này thì việc xây dựng bản đồ công nghệ quốc gia và lộ trình đổi mới công nghệ quốc gia đã được vào trong Quyết định 677/QĐ-TTg phê duyệt chương trình đổi mới công nghệ quốc gia ngày
10/05/2011 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, và tạo cơ sở nền tảng cho việc triển khai chương trình. Với ý nghĩ như vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu một cách cụ thể, cẩn thận để làm chủ lý luận khoa học và đúc rút các kinh nghiệm thực tiễn về cận xây dựng bản đồ công nghệ và lộ trình công nghệ ở các nước, tiến hành thử nghiệm và đúc rút thành quy trình có tính khả thi để áp dụng rộng tãi như là công cụ để cụ thể hóa việc xây dựng bản đồ công nghệ và lộ trình công nghệ nhằm phục vụ chương trình đổi mới công nghệ quốc gia.

Để xây dựng bản đồ công nghệ quốc gia và lộ trình đổi mới công nghệ đáp ứng sự kỳ vọng theo yêu cầu của Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và tạo cơ sở nền tảng cho việc thực hiện các nhiệm vụ sau này, đề xuất cần phải thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ:

Xây dựng Bộ tài liệu hướng dẫn cho việc lập bản đồ công nghệ và lộ trình công nghệ quốc gia;
- Xây dựng hiện trạng bản đồ công nghệ quốc gia trong một số lĩnh vực công nghệ;
- Lập bản đồ công nghệ và lộ trình đổi mới công nghệ cho một số sản phẩm cụ thể.

2.4 Xây dựng Ngân hàng dữ liệu quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo

Một trong những yếu tố đầu vào phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về KH&CN và triển khai các hoạt động KH&CN đó là hệ thống thông tin và dữ liệu về các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động KH&CN, các sản phẩm KH&CN mà đặc biệt là các patent, thông tin cung, cầu công nghệ, phục vụ doanh nghiệp cả ở trong nước và quốc tế. Cho đến nay, một số đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các bộ, ngành khác đã và đang xây dựng các CSDL khác nhau phục vụ cho công tác quản lý và triển khai các hoạt động  KH&CN, song còn một số điểm hạn chế là chưa có cơ sở phương pháp luận, tiêu chí dữ liệu, chuẩn dữ liệu thống nhất để giúp định hướng cho việc xây dựng và liên thông/tích hợp các CSDL thành ngân hàng dữ liệu quốc gia. Bên cạnh đó, chưa có một hệ tiêu chí chuẩn về cấu trúc dữ liệu và mô hình CSDL để đảm bảo tính tương tác và khả năng trao đổi dữ liệu giữa các CSDL khác nhau trong lĩnh vực KH&CN. 

Hiện nay, các thông tin và dữ liệu cần thiết cho việc triển khai các nhiệm vụ về KH&CN vừa thiếu vừa tản mạn, không được xây dựng trên nền tảng cơ sở lý luận khoa học toàn diện và thiếu tính hệ thống/liên thông, ít được cập nhật. Điều đó đã và đang gây không ít khó khăn không những trong việc xác định các đối tác có tiềm lực mạnh, năng lực thực sự về KH&CN ở cả trong nước lẫn nước ngoài.

Tăng cường khung chính sách về KH&CN thông qua việc hỗ trợ tạo lập ngồn thông tin đầy đủ và đáng tin cậy hơn về hoạt động KH&CN: Xây dựng Hệ CSDL Quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo, thiết lập Ngân hàng dữ liệu quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo (National STI Databank) hoạt động trên nền tảng của các mạng KH&CN tiên tiến (VinaREN, VISTA). Khắc phục yếu kém về năng lực xử lý, lưu giữ, quản trị dữ liệu thống kê, xây dựng các CSDL thống kê KH&CN và đổi mới sáng tạo. Do vậy, cần thiết phải xây dựng Ngân hàng Dữ liệu Quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo nhằm phục vụ lâu dài, chuyên nghiệp và an toàn với trang thiết bị, phần mềm, hệ thống được đầu tư tới tầm đảm bảo tính đồng bộ và hiện đại, tăng cường năng lực hội nhập quốc tế.

Hệ CSDL Quốc gia về KH&CN và Đổi mới sáng tạo bao gồm các CSDL về nkhoa học, tổ chức KH&CN, các nhiệm vụ KH&CN, kết quả các nhiệm vụ KH&CN, thống kê KH&CN, tiềm lực KH&CN, pa-tăng, cung cầu công nghệ, Techmart ảo, ….).

Việc xây dựng Ngân hàng  Dữ liệu Quốc gia về KH&CN và đổi mới sáng tạo sẽ cung cấp một cơ sở thống nhất để giúp cho các đơn vị thuộc Bộ KH&CN và các Bộ, ngành, các địa phương, các doanh nghiệp có cơ hội đóng góp, xây dựng, khai thác và chia sẻ thông tin và dữ liệu về KH&CN và đổi mới sáng tạo, đảm bảo tính liên thông giữa các CSDL với nhau và tương hợp với các CSDL KH&CN của quốc tế. 


Tiểu hợp phần 1(b) thuộc Hợp phần 1 (Tiểu dự án FIRST-NASATI) được thành lập một Ban quản lý Tiểu dự án riêng tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia (viết tắt là FIRST-NASATI SPMU).  Các hoạt động của Tiểu hợp phần 1(b) thuộc Dự án FIRST sẽ do FIRST-NASATI SPMU  trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện trên cơ sở hỗ trợ và giám sát bởi Ban Quản lý Dự án trung ương (CPMU) là cơ quan đầu mối điều phối chung cho toàn dự án.

Quay lại